Tuesday, February 18, 2014

Thế nào là văn hóa thực thụ ?



ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Hoàng Kim. Tôi đọc lại Vương Trí Nhàn: Thử trả lời câu hỏi:Thế nào mới là văn hóa thực thụ? "Thành kính và thuần thục", ông chiêm nghiệm và tự trả lời. Hữu Mai tại tiểu thuyết lịch sử đầu tiên về đại tướng Võ Nguyện Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ "Không phải huyền thoại" cũng tự chiêm nghiệm và tự trả lời "mà là trí tuệ Con Người". Câu trả lời ngoài trang sách "ý tại ngôn ngoại" cũng không nằm trong tựa đề cuốn sách nổi tiếng nêu trên được tái bản lần thứ tư mà do người đọc tự mình suy ngẫm và rút ra.


Vương Trí Nhàn kể chuyện Nguyễn Tuân viết thiên truyện mang tên 'Chén trà trong sương sớm' , sau Nguyễn Tuân giản lược đi mà chỉ gọi 'Chén trà sương': " Nhân vật chính trong truyện, một cụ già, đã làm cái việc chuẩn bị cho những chén trà uống trong buổi sớm mai của mình với tất cả thành kính và những sự dụng công, mà người ngày nay chắc bảo là cầu kỳ: nào ấm đun phải ra sao, lửa phải cháy đượm thế nào, nước sôi già phải được thử lại thế nào. Rồi pha, rồi uống, nhất nhất đều tuân thủ những nguyên tắc khắt khe của trà đạo. Nguyễn Tuân kết luận: Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi  thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ ấy đã để vào đấy nhiều công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi. Trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lý . Uống trà đã vậy, đến như những ngày sóc vọng tức là tuần rằm mùng một, lên chùa lễ Phật hoặc giỗ tết thờ cúng tổ tiên, ông cha ta xưa càng đòi hỏi một sự thuần khiết trong nghi lễ, bao gồm cả tấm lòng chân thành lẫn sự tự nguyện tôn trọng mọi quy tắc ứng xử đã trở thành khuôn mẫu."

Vương Trí Nhàn cảnh báo: "Những cách làm phi văn hóa đang quá phổ biến ... Đang thấy xảy ra một quá trình đối nghịch đáng ngại, tức là người đến với văn hoá càng đông thì văn hoá lại càng trở nên xô bồ, thô lậu và chưa biết bao giờ tìm lại được vẻ thiêng liêng thanh khiết của nó. Đôi khi, người ta không khỏi phì cười để rồi sau đó thấm thía buồn trước việc mấy cô mấy cậu choai choai vào chùa mà ăn mặc hở hang và cả mấy câu cầu khấn tối thiểu cũng không thuộc. Lại càng buồn hơn khi phải tận mắt chứng kiến những công trình tu bổ di tích văn hoá theo lối học đòi, làm mất vẻ cổ kính vốn có, hoặc phải đọc những dòng mô tả lịch sử một nghệ thuật truyền thống nào đó được viết vội vàng theo kiểu nói lấy được, khen lấy được. Dẫu sao, những vụng dại ấy còn có thể tạm tha thứ. Đến như những người mở hội lễ chỉ nhằm thu tiền lệ phí, góp tiền công đức xây chùa đúc tượng cốt để cầu mong thần thánh bỏ qua cho mọi hành động gian manh, đội bát hương cốt để phát tài phát lộc thăng quan tiến chức... tóm lại, làm tất cả những việc cao quý với mục đích vụ lợi, rồi lại tự lừa luôn cả mình và lớn tiếng khuyên nhủ mọi người trở về với văn hoá dân tộc, thì trước khi nói đến khía cạnh đạo đức, ở đây còn có vấn đề chính danh tức là người ta  đã không làm đúng một việc như ý nghĩa việc đó phải có".
Giáo sư Hoàng Đạo Kính trao đổi: Đừng "rượt đuổi" theo hai chữ bảo tồn
:  “Trung Quốc có diện tích mênh mông và bề dày văn hóa như vậy mà sở hữu số di tích cấp quốc gia chỉ bằng phân nửa Việt Nam. Có nghĩa, việc ôm một lượng di tích, di sản quá rộng, không tương ứng với năng lực thực tế sẽ làm chúng ta kiệt quệ và mất đi cơ hội bảo tồn những tinh hoa đích thực”.

Xuân sang, suy ngẫm về "Góc nhìn" góp phần bảo tồn và tôn vinh Văn Hóa Việt. Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông. Bảo tồn và phát triển những giá trị đích thực. Dòng sông văn hóa Việt thao thiết chảy, thao thiết đi về biển lớn, lắng đọng phù sa sỏi đá, tắm mát cây cối ruộng đồng và neo giữ bến quê lòng người... Thế nào là văn hóa thực thụ? "Thành kính và thuần thục, đi như dòng sông"


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Nguồn Son Rào Nan Chợ Mới

Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông (Hoàng Kim)

Góc nhìn 271
Góc nhìn 270
Góc nhìn 269
Góc nhìn 268
Góc nhìn 267
Góc nhìn 266
Góc nhìn 265
Góc nhìn 264
Góc nhìn 263
Góc nhìn 262
Góc nhìn 261
Góc nhìn 260
Góc nhìn 259
Góc nhìn 258
Góc nhìn 257
Góc nhìn 256
Góc nhìn 255
Góc nhìn 254
Góc nhìn 253
Góc nhìn 252
Góc nhìn 251
Góc nhìn 250
Góc nhìn 249
Góc nhìn 248
Góc nhìn 247
Góc nhìn 246
Góc nhìn 245
Góc nhìn 244
Góc nhìn 243
Góc nhìn 242
Góc nhìn 241
Góc nhìn 240
Góc nhìn 239
Góc nhìn 238
Góc nhìn 237
Góc nhìn 236
Góc nhìn 235
Góc nhìn 234
Góc nhìn 233
Góc nhìn 232
Góc nhìn 231
Góc nhìn 230
Góc nhìn 229
Góc nhìn 228
Góc nhìn 227
Góc nhìn 226
Góc nhìn 225
Góc nhìn 224
Góc nhìn 223
Góc nhìn 222
Góc nhìn 221
Góc nhìn 220
Góc nhìn 219
Góc nhìn 218
Góc nhìn 217
Góc nhìn 216
Góc nhìn 215
Góc nhìn 214
Góc nhìn 213
Góc nhìn 212
Góc nhìn 211
Góc nhìn 210
Góc nhìn 209
Góc nhìn 208
Góc nhìn 207
Góc nhìn 206
Góc nhìn 205
Góc nhìn 204
Góc nhìn 203
Góc nhìn 202
Góc nhìn 201
Góc nhìn 200
Góc nhìn 199
Góc nhìn 198
Góc nhìn 197
Góc nhìn 196
Góc nhìn 195
Góc nhìn 194
Góc nhìn 193
Góc nhìn 192
Góc nhìn 191
Góc nhìn 190
Góc nhìn 189
Góc nhìn 188
Góc nhìn 187
Góc nhìn 186
Góc nhìn 185
Góc nhìn 184
Góc nhìn 183
Góc nhìn 182
Góc nhìn 181
Góc nhìn 180
Góc nhìn 179
Góc nhìn 178
Góc nhìn 177
Góc nhìn 176
Góc nhìn 175
Góc nhìn 174
Góc nhìn 173
Góc nhìn 172
Góc nhìn 171
Góc nhìn 170
Góc nhìn 169
Góc nhìn 168
Góc nhìn 167
Góc nhìn 166
Góc nhìn 165
Góc nhìn 164
Góc nhìn 163
Góc nhìn 162
Góc nhìn 161
Góc nhìn 160
Góc nhìn 159
Góc nhìn 158
Góc nhìn 157
Góc nhìn 156
Góc nhìn 155
Góc nhìn 154
Góc nhìn 153
Góc nhìn 152
Góc nhìn 151
Góc nhìn 150
Góc nhìn 149
Góc nhìn 148
Góc nhìn 147
Góc nhìn 146
Góc nhìn 145
Góc nhìn 144
Góc nhìn 143
Góc nhìn 142
Góc nhìn 141
Góc nhìn 140
Góc nhìn 139
Góc nhìn 138
Góc nhìn 137
Góc nhìn 136
Góc nhìn 135
Góc nhìn 134
Góc nhìn 133
Góc nhìn 132
Góc nhìn 131
Góc nhìn 130
Góc nhìn 129
Góc nhìn 128
Góc nhìn 127
Góc nhìn 126
Góc nhìn 125
Góc nhìn 124
Góc nhìn 123
Góc nhìn 122
Góc nhìn 121
Góc nhìn 120
Góc nhìn 119
Góc nhìn 118
Góc nhìn 117
Góc nhìn 116
Góc nhìn 115
Góc nhìn 114
Góc nhìn 113
Góc nhìn 112
Góc nhìn 111
Góc nhìn 110
Góc nhìn 109
Góc nhìn 108
Góc nhìn 107
Góc nhìn 106
Góc nhìn 105
Góc nhìn 104
Góc nhìn 103
Góc nhìn 102
Góc nhìn 101
Góc nhìn 100
Góc nhìn 99
Góc nhìn 98
Góc nhìn 97
Góc nhìn 96
Góc nhìn 95
Góc nhìn 94
Góc nhìn 93
Góc nhìn 92
Góc nhìn 91
Góc nhìn 90
Góc nhìn 89
Góc nhìn 88
Góc nhìn 87
Góc nhìn 86
Góc nhìn 85
Góc nhìn 84
Góc nhìn 83
Góc nhìn 82
Góc nhìn 81
Góc nhìn 80
Góc nhìn 79
Góc nhìn 78
Góc nhìn 77
Góc nhìn 76
Góc nhìn 75
Góc nhìn 74
Góc nhìn 73
Góc nhìn 72
Góc nhìn 71
Góc nhìn 70
Góc nhìn 69
Góc nhìn 68
Góc nhìn 67
Góc nhìn 66
Góc nhìn 65
Góc nhìn 64
Góc nhìn 63
Góc nhìn 62
Góc nhìn 61
Góc nhìn 60
Góc nhìn 59
Góc nhìn 58
Góc nhìn 57
Góc nhìn 56
Góc nhìn 55
Góc nhìn 54
Góc nhìn 53
Góc nhìn 52
Góc nhìn 51
Góc nhìn 50
Góc nhìn 49

Góc nhìn 48
Góc nhìn 47

Góc nhìn 46

Góc nhìn 45

Góc nhìn 44
Góc nhìn 43
Góc nhìn 42

Góc nhìn 41

Góc nhìn 40
Góc nhìn 39

Góc nhìn 38
Góc nhìn 37
Góc nhìn 36
Góc nhìn 35
Góc nhìn 34
Góc nhìn 33

Góc nhìn 32
Góc nhìn 31
Góc nhìn 30
Góc nhìn 29
Góc nhìn 28
Góc nhìn 27
Góc nhìn 26
Góc nhìn 25
Góc nhìn 24
Góc nhìn 23
Góc nhìn 22
Góc nhìn 21
Góc nhìn 20
Góc nhìn 19
Góc nhìn 18
Góc nhìn 17

Góc nhìn 16
Góc nhìn 15
Góc nhìn 14
Góc nhìn 13
Góc nhìn 12

Góc nhìn 11
Góc nhìn 10
Góc nhin 9
Góc nhìn 8
Góc nhìn 7

Góc nhìn 6
Góc nhìn 5
Góc nhìn 4
Góc nhìn 3
Góc nhìn 2
Góc nhìn 1

 

Xem thêm

GS Hoàng Đạo Kính:
Đừng 'rượt đuổi' theo 2 chữ bảo tồn

(Thethaovanhoa.vn) - “Trung Quốc có diện tích mênh mông và bề dày văn hóa như vậy mà sở hữu số di tích cấp quốc gia chỉ bằng phân nửa Việt Nam. Có nghĩa, việc ôm một lượng di tích, di sản quá rộng, không tương ứng với năng lực thực tế sẽ làm chúng ta kiệt quệ và mất đi cơ hội bảo tồn những tinh hoa đích thực”, GS - KTS Hoàng Đạo Kính, thành viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia, Phó chủ tịch Hội KTS Việt Nam, nhận xét.

* Năm qua dân làng cổ Đường Lâm đòi “trả lại” bằng di tích để được xây nhà mới, một cây cầu vượt qua Đàn Xã Tắc tốn bao bài báo tranh luận, hay dự án giãn dân phố cổ Hà Nội nhiều năm thực hiện vẫn vô cùng chậm chạp… Có nhiều di sản đôi khi cũng không lấy gì làm “sung sướng” phải không thưa ông?
- Vấn đề khả thi của chuyện bảo tồn đang đặt ra với toàn bộ hệ thống di sản của chúng ta. Toàn quốc đang có tới gần 4 vạn di tích các loại được xếp hạng mà di tích nào cũng cần trùng tu cả. Một di tích trung bình cần đầu tư 10 tỷ đồng cho mỗi lần trùng tu, vậy tổng kinh phí sẽ là bao nhiêu? Riêng Hà Nội đã có 5.100 di tích. Thậm chí, chỉ một phường Văn Miếu gần nhà tôi đã có 5 ngôi chùa được xếp hạng các loại, trong đó có ngôi chùa “sinh” năm 1938, tức là chỉ hơn tôi vài tuổi thôi. Ngày xưa, trong một giai đoạn nhất định, chúng ta xếp hạng để bảo vệ và giữ cho được chùa. Bây giờ, chuyện phá bỏ đình chùa của một thời không còn nữa, thậm chí người ta lại còn đua nhau xây thêm. Duy trì, bảo tồn tràn lan di tích như vậy và trông cả vào nguồn kinh phí Nhà nước, vào trách nhiệm của các ngành quản lý thì có làm nổi không?



GS Hoàng Đạo Kính
Chuyện làng cổ cũng thế thôi, thậm chí còn khổ hơn bảo tồn di tích nhiều lần. Hà Nội có nhiều ngôi làng cổ mang giá trị văn hóa, là hình ảnh của sự chuyển tiếp mềm mại trong lịch sử đô thị hóa đầu thế kỷ trước. Nhưng bây giờ, với tình trạng đường sá, hạ tầng cơ sở, dân cư chen chúc nhau, đó lại là những dị thể đang tồn tại trong lòng một đô thị phát triển. Duy trì được những ngôi làng bình thường thôi, để không bị đô thị “nuốt chửng” đã là điều khó tưởng rồi.

Quê ngoại tôi ở làng Đại Yên, thuộc đất “Thập tam trại” của Thăng Long xưa. Giá trị lịch sử thì cao, nhưng trong làng bây giờ thì vô cùng chật chội, ô nhiễm, cư dân cãi lộn đánh chửi nhau suốt ngày. Có nghĩa, đó là những di sản đô thị nhưng đồng thời cũng là những ứ tồn lịch sử. Hoặc, gọi cho đúng, đó cũng là những khu ổ chuột của thời văn minh. Việc giải quyết những ứ tồn ấy còn khó khăn và tốn thời gian hơn nhiều so với ý tưởng “giải tán” những khu nhà tập thể lắp ghép thời Xã hội chủ nghĩa đang nằm trong lòng Hà Nội đấy.


* Có nghĩa là theo ông chúng ta đang “tham” quá?
- Cuối cùng, vẫn là câu chuyện ta phải xét tới tính khả thi để điều chỉnh đối tượng bảo tồn thôi. Đành rằng di tích, di sản là hồn của dân tộc mình, nhưng ta thích mà không giữ được thì dở vô cùng. Bây giờ, với trào lưu bảo tồn tràn lan, các di tích cấp tỉnh, cấp thành phố đều có xu hướng xin được nâng lên cấp quốc gia. Rồi chạy đua để thành di tích quốc gia đặc biệt, thành di sản của UNESCO nữa. Cuộc chạy đua như thế vô hình đang đi ngược lại cơ may mà thế hệ chúng ta đang cố làm trong khả năng của mình: giữ cho được, duy trì cho được, bênh vực cho được những tinh hoa thật sự.
* Nhiều nhà nghiên cứu nhận xét: đặt trong xu thế tìm về cội nguồn hiện nay, chúng ta đang có quá nhiều những người đặt di sản xưa trong một khoảng cách lý tưởng rồi đứng ở xa mà xuýt xoa ca ngợi - trong khi lại quá ít những trí thức tìm cách “đứng gần” và tiếp cận di sản bằng một cái nhìn văn hóa cần thiết.

- Vậy thì chúng ta sẽ phải tiếp tục cuộc rượt đuổi quanh vấn đề bảo tồn. Càng giữ tràn lan, chúng ta lại càng gặp nhiều thách thức và càng dễ bỏ qua, không tập trung bảo tồn những gì bức thiết nhất. Bởi cuộc sống là sự đào thải dần những gì không phù hợp với quy luật vận động của nó. Để tồn tại được tới bây giờ, rất nhiều những di tích, di sản trong lịch sử cũng đã trải qua những cuộc đào thải, thanh lọc tự thân rồi.

Chúng ta tiếc gốc đa, giếng nước, gốc cây, vườn cảnh… trong khi người dân thấy cuộc sống như vậy không tiện nghi. 95% người dân tại một xã của Hải Dương không muốn sống trong những ngôi nhà cũ.
Thật lòng, theo nghề bảo tồn 40 năm nay, tôi chỉ muốn nói: chúng ta hãy cố hiểu cuộc sống của những người dân tại các làng cổ đi, chứ đừng mãi hoài niệm một cách duy ý chí. Vài năm trước, xuống điều tra một xã tại Hải Dương, chúng tôi được biết, 95% người dân bản địa không muốn sống trong những ngôi nhà cũ. Chúng ta tiếc gốc đa, giếng nước, gốc cây, vườn cảnh nọ kia, trong khi họ thấy cuộc sống như vậy là không tiện nghi, không khép kín, và muốn sửa theo kiểu cũ thì cũng không biết tìm đủ tre gỗ ở đâu để sửa. Và muốn bảo tồn tràn lan, thì chúng ta có đủ sức bắt cả vạn người ở trong những gian nhà 3 gian 2 chái truyền thống như vậy được không?




Những trường hợp như làng cổ Đường Lâm cần được ưu tiên bảo tồn, thay vì chạy theo diện rộng?
* Như vậy, nghĩa là chúng ta phải bảo tồn chọn lọc, và chấp nhận để những di sản không có nhiều giá trị tự biến đổi theo quy luật của xã hội?
- Việc bảo tồn những gì phải nghiên cứu thấu đáo, từ đó có cuộc sàng lọc để bảo tồn những gì bức thiết nhất. Và như tôi đã nói nhiều lần, chúng ta cần phân biệt rõ di tích và di sản kiến trúc - những thiết chế cộng cư sống động và đang diễn ra những hoạt động bình thường và tiếp nối của cuộc sống. Bắt những di sản này phải được bảo tồn như các đình, chùa, miếu cụ thể thì không thể được.

Chẳng hạn, về di sản kiến trúc đô thị và di sản kiến trúc nông thôn, Hà Nội có 2 trường hợp điển hình là khu phố cổ và làng cổ Đường Lâm. Tập trung đầu tư và giữ thật tốt 2 di sản này đã là đáng mừng lắm rồi. Bởi, muốn bảo tồn 2 trường hợp ấy, chúng ta lại phải nghiên cứu đầy đủ để giữ được hồn cốt, nếp sống và những giá trị văn hóa phi vật thể kèm theo nó. Nghĩa là phải có chính sách đi từ thực tế để có sự cộng sinh hài hòa giữa nhu cầu bảo tồn và việc phát triển đời sống của người dân nơi đây, chứ không thể áp đặt một cách khiên cưỡng máy móc được đâu.

* Xin cám ơn GS.

Sơn Tùng (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

Trở về đầu trang

Chào ngày mới !
Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Những trang liên kết chính

Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày,
Danh nhân Việt, Food Crops News, KimTwitter, KimFaceBook,  CassavaViet, foodcrops.vn

Sunday, February 16, 2014

Đọc thơ vui: Thử làm vợ


Thơ vui: THỬ LÀM VỢ
Chép từ Duong Thuy Nhien

"Có một anh chàng nọ
Làm quần quật luôn tay
Nên bỗng ghen với vợ
Được ở nhà suốt ngày

Anh chàng than với Chúa:
“Con khổ quá Chúa ơi
Ngày phải làm 10 tiếng
Trong khi, vợ thảnh thơi

Con xin thành cô ấy
Còn cô ấy thành con
Cho nếm thử mùi vị
Thử làm chồng có ngon?”

Chúa thương tình đồng ý
Đổi giới tính hai người
Cô vợ không ý kiến
Còn chồng sung sướng cười!

Sáng hôm sau tỉnh giấc
Chàng vội vã nấu ăn
Hò hét kêu con dậy
Rồi quýnh quáng gập chăn

Sắp từng cái quần áo
Cả bốn “đứa” trong nhà
Cho ăn, đèo đi học
Cuống lên vì trường xa

Rồi quay về đi chợ
Hoa quả với thức ăn
Đồ bẩn đem đi giặt
Kẻo “chồng” về cằn nhằn

Đoạn quay sang chế biến
Nấu ăn cho thật ngon
Tranh thủ chờ cơm chín
Phi tới trường đón con

Ăn xong lại rửa bát
Lau bếp núc sàn nhà
Tắm cho mèo, cho chó
Toàn những việc đàn bà

Chưa được nghỉ một tí
Lại phải đưa con đi
Học thêm và học nếm
Chuẩn bị thi học kỳ

Loanh quanh mà nháy mắt
Trời đã chuyển sang chiều
Lại đón con, nấu nướng
Rồi phục dịch “chồng” yêu

(Sau khi rửa xong bát
Thì đã 21 giờ
Anh “chồng” mà trước đó
Là vợ - cứ nằm chờ)

Một ngày thở ra khói
Vừa leo lên giường nằm
“Chồng” đã khều chân gãi:
Chúng mình chơi “đào hầm”!

Dù trong lòng không thích
Vì mệt rũ cả người
Nhưng vẫn cứ phải cố
Giúp chồng được “xả hơi”

*
Sáng hôm sau gặp Chúa
Anh vội vã khẩn cầu:
“Làm đàn bà mệt quá
Con không thích nữa đâu!

Con đã biết lỗi lớn
Có mắt mà như không
Giờ con mới thấy khổ
Xin trở lại làm chồng!”

Chúa vuốt râu cười lớn:
“Ta mới vui làm sao
Khi con đã hiểu rõ
Làm vợ mệt thế nào

Giờ con muốn trở lại
Ta có tiếc gì đâu
Nhưng phải sau 9 tháng
Vì con đã dính… “bầu”


*

Đọc thơ: THỬ LÀM VỢ
Cười mà nước mắt rơi
Nghe nhằn quên thấy giận
Khi bực vẫn biết cười

Chuyện ngày xưa của bố
Theo con suốt cuộc đời
Bố bán nhà cứu mẹ
Lồng lộng vầng trăng soi (1)

Nhà mình như suối nước
Đi như dòng sông xanh
Giữa đôi bờ thương nhớ
Thấu hiểu điều tử sinh.

Hoàng Kim (sưu tầm và bình giảng)
(1) Mười lăm trăng quả thật tròn
http://hoangkimlong.blogspot.com/2014/02/muoi-lam-trang-qua-that-tron.html

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương Nam,  Chào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống,  Thơ cho con

Wednesday, February 12, 2014

Lịch sử Việt, Nga đêm trước Rằm Nguyên Tiêu


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM
. Lịch sử Việt, Nga đêm trước Rằm Nguyên Tiêu.
Trận Lạng Sơn  và Konstantin Chernenko là sự kiện và nhân vật nổi bật của ngày 13 tháng 2 trong lịch sử nhân loại. Sau Trận Lạng Sơn ngày 13 tháng 2 năm 1885, kể từ ngày 9 tháng 6 năm 1885 (ngày ký hiệp ước Thiên Tân mới), nhà Thanh chính thức thừa nhận quyền đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam. Ngày 13 tháng 2 năm 1984, Konstantin Chernenko được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô, kế nhiệm Yuri Andropov vừa qua đời. Konstantin Chernenko là nhân vật lịch sử quan trọng đáng chú ý thời "chiến tranh lạnh".

Sau Chernenko là Gorbachev. "Yuri Andropov chết tháng 2 năm 1984, chỉ sau 15 tháng cầm quyền. Chernenko được bầu thay thế Andropov, dù có những lo ngại về sức khoẻ kém của ông, và trái ngược lại với những mong muốn của Andropov (ông nói ông muốn Gorbachev kế vị mình). Yegor Ligachev viết trong hồi ký của mình rằng Chernenko được bầu làm tổng bí thư mà không gặp cản trở nào.

Lịch sử sang trang của Liên Xô cũ: "Mọi sáng thứ 5 Mikhail Gorbachev sẽ ngồi trong văn phòng của mình như một đứa trẻ mồ côi nhỏ - tôi thường hiện diện trong quá trình buồn tẻ đó – chờ đợi một cách lo lắng một cuộc điện thoại gọi tới từ Chernenko đang ốm yếu: Liệu ông có đích thân tới Bộ Chính trị hay sẽ yêu cầu Gorbachev thay mặt cho ông một lần nữa?"  Nikolai Ryzhkov đã miêu tả như vậy trong hồi ký của mình.

Sự kiện và nhân vật cuối cùng của sự chuyển dịch lịch sử.  Đọc lại và suy ngẫm. Hoàng Kim.

Chào ngày mới 13 tháng 2

Tập tin:CaptureOfLang-Son.jpg

CNM365 Chào ngày mới 13 tháng 2 Wikipedia Ngày này năm xưa Ngày Phát thanh Thế giới.  Năm 1689 – Cách mạng Vinh Quang: William III và Mary II được tuyên bố là các đồng quân chủ của Anh và Ireland. Năm 1885 – Chiến tranh Pháp-Thanh: Quân Pháp chiếm thành Lạng Sơn (hình) từ tay quân Thanh. Năm 1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến dịch Budapest kết thúc khi tàn quân Đức và Hungary đầu hàng vô điều kiện trước Hồng Quân Liên Xô. Năm 1984 – Konstantin Chernenko được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô, kế nhiệm Yuri Andropov vừa qua đời. (xem tiếp)

Video yêu thích  http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam Trở về trang chính Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương Nam,  Chào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống,  Thơ cho con

Monday, February 10, 2014

Tình hình biển Đông có gì mới ?




ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Tình hình biển Đông có gì mới ? là trang thu thập thông tin, nghiên cứu động thái quan hệ Quốc tế và Việt Nam về biển Đông. Số báo đầu tiên của chuyên mục này đăng trên trang www.hoangkimvietnam.wordpress.com ngày 6 tháng 7 năm 2011. Cho đến nay, trang tin đã thu thập chọn lọc 35 phản hồi. Tài liệu đáng chú ý mới nhất là bài báo "Sự trở lại Đông Nam Á của Liên Bang Nga và tác động đối với Việt Nam" do tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa đăng trên Văn Hóa Nghệ An ngày 9 tháng 2 năm 2014. Bài báo có đoạn viết: "Bước vào thế kỷ XXI, Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực địa – chính trị, địa – quân sự, địa - kinh tế quan trọng bậc nhất của thế giới với sự gia tăng ảnh hưởng chính trị, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ấn tượng vượt xa mức trung bình toàn cầu, với vai trò hàng đầu trong sự liên kết lực lượng mới đang nổi lên ở khu vực [1]. Những yếu tố đó khiến Đông Nam Á trở thành “vùng đệm” vô cùng quan trọng trong chiến lược kiềm chế lẫn nhau, lan tỏa ảnh hưởng ở châu Á – Thái Bình Dương của hàng loạt nước lớn. Do vậy, sự trở lại Đông Nam Á của Liên Bang Nga là một tất yếu chiến lược, có tác động đa chiều và trực tiếp tới cục diện khu vực."... "Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương và tiểu khu vực Đông Nam Á làm tăng vị thế địa - chính trị của Việt Nam. Án ngữ vị trí quan trọng ở Đông Nam Á, từ đó có thể kiểm soát các tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch đi qua khu vực biển Đông - nơi LB Nga có nhiều lợi ích thiết thân với yêu cầu bảo đảm các quyền lợi an ninh, kinh tế, hàng hải có ý nghĩa chiến lược, nên trong bước trở lại Đông Nam Á của nước  Nga, Việt Nam là một mặt xích quan trọng. Ngày tuyên thệ nhậm chức (7-5-2012), Tổng thống V.Putin đã ký Sắc lệnh "Về các biện pháp thực hiện chính sách đối ngoại"; trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia mà nước Nga đặt yêu cầu “củng cố và làm sâu sắc thêm đối tác tin cậy công bằng và sự hợp tác chiến lược” trong quan hệ  Nga – châu Á – Thái Bình Dương, nhằm “bảo đảm các lợi ích quốc gia Nga trên cơ sở các nguyên tắc thực dụng, cởi mở và đa phương trong bối cảnh đang hình thành hệ thống đa cực trong quan hệ quốc tế"[36]. Trên thực tế, Nga đã lập tức có những động thái cụ thể, dựa trên đó, có thể hoàn toàn tin vào “tính thực dụng” trong chính sách đối ngoại của nước Nga – đó là vấn đề biển Đông." ..."Vốn lâu nay giữ thái độ thận trọng và trung lập trong các tranh chấp biển Đông, gần đây nước Nga đã không đứng ngoài cuộc. Tháng 4-2012, Tập đoàn khí đốt Nga Gazprom và Vietsovpetro đã thỏa thuận về việc Gazprom sẽ tiến hành cùng khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam – nơi mà Bắc Kinh cho là “nằm bên trong hải giới truyền thống” của mình và công ty Anh BP (British Petroleum) đã phải rút lui dưới áp lực của Trung Quốc. Trong khi Mỹ đang lưỡng lự, chưa rút lui nhưng cũng không có dấu hiệu tiến tới thực hiện dự án Exxon Mobil khai thác dầu tại lô 119 ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, còn Ấn Độ cũng đang chần chừ xem có nên bước thêm bước nữa trong dự án thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128, dù dự án được sự ủng hộ của Nhật Bản, thì động thái nói trên của Nga là một diễn biến quan trọng, thể hiện  bước chuyển trong lập trường của Nga đối với vấn đề biển Đông. Nếu Nga khai thác dầu khí thành công có nghĩa là Việt Nam có thêm đồng minh trong giải quyết tranh chấp trên biển Đông - nơi đang nóng lên từng ngày do các xung đột lãnh hải và việc khai thác tài nguyên diễn ra êm thấm là một hình thức xác định / khẳng định chủ quyền trên vùng biển đó." (Hoàng Kim điểm tin)

Xem thêm bài báo đầu tiên (Posted on



Biển Đông và  đường lưỡi  bò
vẫn là  chủ  đề  nóng và động thái còn diễn biến phức tạp. Đây chỉ mới là sự khởi đầu của cuộc chiến pháp lý về chủ quyền trên biển Đông. Phía Trung Quốc đã chuẩn bị dư luận trong nước trên 60 năm (1950- 2011) về đường lưỡi bò “chuỗi ngọc trai của đất mẹ Trung Quốc” và đã  thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. Trung Quốc hiện đang hối thúc Việt Nam sớm đồng thuận theo cách “chủ quyền thuộc tôi, gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”.  Phía Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý; Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hướng dư luận vào sự ứng xử phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát, không tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp. Bản tuyên cáo đặc biệt do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng về việc nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông ngày 25 tháng 6 hiện có 1164 người tham gia ký tên. Quan điểm của những người  ký tuyên cáo coi việc giải quyết vấn đề biển Đông trong hòa bình thuộc trách nhiệm của Chính phủ nhưng điều đó không có nghĩa người dân không được quyền tiếp tục thể hiện thái độ của mình; Tuyên cáo đề cao ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của toàn dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc. Vấn đề biển Đông đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ, sáng suốt và kiên trì, thế và lực của toàn dân tộc, sự ủng hộ quốc tế, sự minh bạch thông tin và phổ biến sâu rộng kịp thời cho dân chúng biết các vấn đề liên quan đến tranh chấp biển Đông.

TIN NỔI BẬT

Lần đầu tiên, một bản phân tích kỹ lưỡng về bức Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (Huu Nguyen). Bài này được đăng trên Đại đoàn kết ngày 20 tháng 7 năm 2011. (xem tiếp trang chính và các bài thu thập chọn lọc )

Video yêu thích  http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, KimTwitter, KimFaceBook,  CassavaViet, foodcrops.vn


   

Tuesday, February 4, 2014

Đầu xuân nghĩ ngợi về nông nghiệp


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Có hai bài viết về nông nghiệp cuối năm cũ và đầu năm mới làm tôi nghĩ ngợi mãi, đó là bài "Tái cơ cấu nông nghiệp: tiền, thị trường và tư duy" của PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ (Hải Vân ghi) từ nguồn Cây Lương thực dẫn lại của  DNSG Online và bài Xin đừng bắt nông dân làm chỗ dựa của Nam Nguyên từ nguồn Quê Choa dẫn lại của RFA. Ông Nguyễn Văn Bộ nhận xét :"Tái cơ cấu ngành nông nghiệp với mục tiêu nâng cao thu nhập của người nông dân được xem là định hướng phát triển nền nông nghiệp Việt Nam giai đoạn tới. Định hướng đó hoàn toàn đúng nhưng tái cơ cấu bằng cách nào, chuyển đổi sang cây gì, con gì lại không đơn giản. Đã có rất nhiều cuộc họp bàn về vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp và thực hiện nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhưng thực tế, vẫn là nói dễ hơn làm. Và sẽ càng khó hơn khi quá trình tái cơ cấu đòi hỏi 3 yếu tố quan trọng: tiền, thị trường và tư duy. Trong nhiều năm, nông nghiệp được nói đến nhiều, sản xuất để xuất khẩu cũng được nói đến nhiều, nhưng người nông dân, chủ thể chính của sản xuất lại ít được nói đến. Đặt ra con số lợi nhuận thu được từ 1ha đất sản xuất lúa gạo, nhưng thực tế có mấy hộ có được 1ha đất.". Ông Nguyễn Minh Nhị thì trao đổi những câu thật thấm thía: "“Sẽ phải giải quyết đồng bộ nhiều chuyện lắm, thứ nhất phải làm sao tích tụ đất đai, một người phải canh tác nhiều héc-ta. Bây giờ anh lãi 50% hay 100% nhưng anh làm có nửa héc-ta thì chẳng nhằm gì so với 4 năm nhân khẩu trong gia đình. Trước hết đất đai phải nhiều thì lợi tức mới cao. Thứ hai là tổ chức làm sao từ khâu giống, nước, phân tới khâu thu hoạch phải bảo đảm giá thành thấp và đầu ra bảo đảm tiêu thụ ở mức ổn định và bảo đảm có lợi tức. Đó là hai điều kiện bản thân của nông nghiệp." ( Người nông dân Việt Nam gánh chịu đủ mọi thiệt thòi - ảnh Nam Nguyên)


Xin đừng bắt nông dân làm chỗ dựa

Nam Nguyên

Người nông dân Việt Nam gánh chịu đủ mọi thiệt thò
Nông dân làm không đủ ăn nhưng thường được nhà nước ví von là chỗ dựa cho nền kinh tế. Nông dân và chuyên gia nói gì về hy vọng nâng cao thu nhập cho 50 triệu người làm nghề nông.
Người nông dân đang bị vắt chanh bỏ vỏ
Theo TS Nguyễn Quang A thuộc nhóm trị sự Diễn đàn Xã hội Dân sự, thật không có gì chua chát hơn khi nói người làm nông nghiệp và nông thôn là trụ đỡ nền kinh tế những lúc khó khăn.

“Sở dĩ người Việt Nam còn gắn bó với nông thôn vì khi mất việc làm ở thành phố người ta vẫn quay về nông thôn. Không còn cách gì khác người ta quay về làm ruộng, trồng cây hoặc nuôi gia súc để kiếm ăn. Đấy là một việc cực chẳng đã thì họ phải làm như vậy, họ còn có một nơi chốn để trở về. Hiểu theo nghĩa như vậy thì nông thôn có thể xem là trụ đỡ nhưng thực sự đó là tai họa, bởi vì không còn cách để sinh nhai nên họ đành phải về đấy, gia đình họ hàng làng xóm có thể là nơi giúp cho người ta không phải bơ vơ ngoài vỉa hè. Nếu hiểu theo nghĩa trụ đỡ như thế thì tôi nghĩ rất là đáng buồn.”
“Lúc đầu đổi mới mở ra, đầu tư của nhà nước tập trung cho nông nghiệp là nhiều, trong nông nghiệp chủ yếu tập trung cho thủy lợi  rất là lớn. 
Nông dân chiếm một lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, họ đã nỗ lực để nuôi sống được cả một đất nước 90 triệu dân và còn làm ra các sản phẩm xuất khẩu với số lượng rất lớn. Nếu lấy mốc thời gian trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì tổng mức đầu tư vào nông nghiệp đã giảm gần một nửa trong những năm gần đây. Phải chăng nhà nước đối xử bất công với trụ đỡ của nền kinh tế. Phải chăng nhà nước  đã buông rơi nông nghiệp - nông sản cũng như để cho nông dân tự bươn chải. Ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang nhận định:
Nhưng mà nông nghiệp đâu chỉ có vấn đề thủy lợi, nếu gắn với phát triển nông thôn thì nó còn nhiều vấn đề khác. Từ nhu cầu mở rộng, yêu cầu nó cao hơn, người ta mới nhìn lại và thấy rằng đầu tư của nhà nước như vậy là thấp. Lúc đó yêu cầu xây dựng phát triển nông thôn, hội nhập kinh tế thế giới thì phải tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm kinh doanh, nó đòi hỏi đầu tư toàn diện và ở một chiều cao chiều sâu, lúc bấy giờ người ta coi lại thì thấy chính phủ đầu tư cho nông nghiệp là thấp. Người ta nói như vậy là đúng.” 
Tái cơ cấu đối với nông nghiệp dù là trên giấy tờ cũng bị nhà nước để rơi lại sau cùng, phải mãi đến tháng 7/2013 Thủ tướng Chính phủ mới phê duyệt đề án tái cơ cấu của Bộ NN-PTNT theo chủ đích nâng cao thu nhập cho nông dân. Đề án này cũng gây nhiều tranh luận trên các diễn đàn, bởi vì điều gọi là không thể xóa bài làm lại, khi ruộng đất đã được phân chia nhỏ lẻ manh mún, nông dân mạnh ai nấy làm.
“Cánh đồng lớn” nói thì dễ, thực hiện thì rất khó
Tổ chức lại sản xuất theo hướng đặt nông dân vào vai trò trung tâm của chuỗi sản xuất là điều nói thì dễ nhưng thực hiện thì rất khó. Cho đến nay việc thực hiện tái cơ cấu của Bộ NN-PTNT hầu như chỉ dừng lại ở một chủ trương đã cũ, thay vì  khẩu hiệu “Cánh đồng mẫu lớn” trong trồng lúa thì nay gọi là “Cánh đồng lớn”. Nông dân làm theo hợp đồng với doanh nghiệp để có thu nhập tốt hơn.
Tuy nhiên cánh đồng lớn chỉ đạt thành công ở một vài mô hình của tư nhân và diện tích còn giới hạn. Mấu chốt của cánh đồng lớn là giảm chi phí sản xuất, sản phẩm đồng nhất, phẩm chất được kiểm soát để tiêu thụ với giá cao hơn. Tuy nhiên, sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp dám đầu tư vào cánh đồng lớn, khi mà thị phần xuất khẩu gạo nằm trong tay các Tổng công ty Nhà nước đến 60%-70% và các nhà buôn có độc quyền này chỉ thích buôn bán xuất khẩu theo kiểu ăn chênh lệch giá.
Tái cơ cấu đối với nông nghiệp dù là trên giấy tờ cũng bị nhà nước để rơi lại sau cùng, phải mãi đến tháng 7/2013 Thủ tướng Chính phủ mới phê duyệt đề án tái cơ cấu của Bộ NN-PTNT theo chủ đích nâng cao thu nhập cho nông dân. Đề án này cũng gây nhiều tranh luận trên các diễn đàn, bởi vì điều gọi là không thể xóa bài làm lại, khi ruộng đất đã được phân chia nhỏ lẻ manh mún, nông dân mạnh ai nấy làm.
“Cánh đồng lớn” nói thì dễ, thực hiện thì rất khó
Tổ chức lại sản xuất theo hướng đặt nông dân vào vai trò trung tâm của chuỗi sản xuất là điều nói thì dễ nhưng thực hiện thì rất khó. Cho đến nay việc thực hiện tái cơ cấu của Bộ NN-PTNT hầu như chỉ dừng lại ở một chủ trương đã cũ, thay vì  khẩu hiệu “Cánh đồng mẫu lớn” trong trồng lúa thì nay gọi là “Cánh đồng lớn”. Nông dân làm theo hợp đồng với doanh nghiệp để có thu nhập tốt hơn.
Tuy nhiên cánh đồng lớn chỉ đạt thành công ở một vài mô hình của tư nhân và diện tích còn giới hạn. Mấu chốt của cánh đồng lớn là giảm chi phí sản xuất, sản phẩm đồng nhất, phẩm chất được kiểm soát để tiêu thụ với giá cao hơn. Tuy nhiên, sẽ có bao nhiêu doanh nghiệp dám đầu tư vào cánh đồng lớn, khi mà thị phần xuất khẩu gạo nằm trong tay các Tổng công ty Nhà nước đến 60%-70% và các nhà buôn có độc quyền này chỉ thích buôn bán xuất khẩu theo kiểu ăn chênh lệch giá.\
Thế kỷ 21, vẫn con trâu đi trước cái cầy theo sau...AFP
“Hiện nay những mô hình như Đồng Tháp đang làm, người ta cố gắng tiến tới những cánh đồng liên kết, trong đó tổ chức lại sản xuất theo qui mô lớn, đòi hỏi phải có sự liên kết của nông dân tự nguyện tham gia. Trong khi tham gia vào liên kết đó, người nông dân sẽ được biết, được thông tin cả những vấn đề về thị trường nữa, để mà có thể chủ động và có quyết định đối với thị trường, họ sẽ được gắn gần gũi hơn với thị trường với các quyết định về kinh doanh nữa, chứ không phải chỉ là người sản xuất thuần túy không thôi.”
Bằng với kinh nghiệm của một người từ nông dân đi lên tới chức Chủ tịch tỉnh, ông Nguyễn Minh Nhị cho thấy bài toán hết sức nan giải của Việt Nam nếu muốn “đổi đời” cho nông dân.
“Sẽ phải giải quyết đồng bộ nhiều chuyện lắm, thứ nhất phải làm sao tích tụ đất đai, một người phải canh tác nhiều héc-ta. Bây giờ anh lãi 50% hay 100% nhưng anh làm có nửa héc-ta thì chẳng nhằm gì so với 4 năm nhân khẩu trong gia đình. Trước hết đất đai phải nhiều thì lợi tức mới cao. Thứ hai là tổ chức làm sao từ khâu giống, nước, phân tới khâu thu hoạch phải bảo đảm giá thành thấp và đầu ra bảo đảm tiêu thụ ở mức ổn định và bảo đảm có lợi tức. Đó là hai điều kiện bản thân của nông nghiệp.
Tái cơ cấu nông nghiệp là câu chuyện của nhà nước, đối với nông dân họ chỉ có những ước mong đơn giản và cụ thể. Ý kiến của một nông dân ở vựa lúa xuất khẩu đồng bằng sông Cửu Long có thể là mong muốn chung của hầu hết những ngưới trồng lúa:
“ Qua năm Giáp Ngọ này ‘mã đáo thành công’, nông dân hy vọng lúa gạo bán có giá, thu nhập cao lên, chi phí đầu vào hạ xuống. Nếu nhà nước muốn hỗ trợ cho nông dân thì tôi nghĩ có một điều nông dân rất mong đợi là giá bán vật tư nông nghiệp đầu vào xin miễn thuế giá trị gia tăng, miễn thuế đầu vào thì nông dân giảm được 10% giá vật tư đầu vào như vậy nông dân lời được 10% trong đó rồi.”
Qua tiếp xúc với chúng tôi, nhiều nông dân mong muốn đổi đời cho con em mình một cách rõ rệt là sẽ không phải tiếp tục đời nông dân như cha ông. Đó không chỉ là là một sự thật cay đắng mà chính là một trong các lời giải cho tái cơ cấu nông nghiệp. Bên cạnh việc tổ chức lại sản xuất, khi nào nhà nước chưa thể chuyển dịch cơ cấu lao động, rút giảm tỷ lệ đáng kể lao động trong nông nghiệp để lợi nhuận đầu người trong nông nghiệp cao hơn, thì khi ấy chưa thể nói gì về việc tăng thu nhập cho nông dân.
 
Tái cơ cấu nông nghiệp: tiền, thị trường và tư duy
PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ (Hải Vân ghi) nguồn DNSG Online 


Tái cơ cấu ngành nông nghiệp với mục tiêu nâng cao thu nhập của người nông dân được xem là định hướng phát triển nền nông nghiệp Việt Nam giai đoạn tới. Định hướng đó hoàn toàn đúng nhưng tái cơ cấu bằng cách nào, chuyển đổi sang cây gì, con gì lại không đơn giản. Đã có rất nhiều cuộc họp bàn về vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp và thực hiện nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhưng thực tế, vẫn là nói dễ hơn làm. Và sẽ càng khó hơn khi quá trình tái cơ cấu đòi hỏi 3 yếu tố quan trọng: tiền, thị trường và tư duy.
Trong nhiều năm, nông nghiệp được nói đến nhiều, sản xuất để xuất khẩu cũng được nói đến nhiều, nhưng người nông dân, chủ thể chính của sản xuất lại ít được nói đến. Đặt ra con số lợi nhuận thu được từ 1ha đất sản xuất lúa gạo, nhưng thực tế có mấy hộ có được 1ha đất.
Tại đồng bằng sông Hồng, 90 – 95% số hộ nông dân có diện tích 0,2 – 0,3ha, đồng bằng sông Cửu Long có khá hơn một chút. Trong bối cảnh chi phí đầu vào cao, giá công lao động cao (thấp nhất là 150 ngàn đồng/ngày), giá lúa bán ra thấp như hiện nay, mỗi hộ phải có 4ha trở lên mới có thể sống được bằng sản xuất lúa gạo.
Việc hàng chục ngàn hộ nông dân bỏ ruộng là dấu hiệu của sản xuất không hiệu quả. Theo các báo cáo, chưa đến 10 ngàn ha nhưng với quy mô 0,2 – 0,3 ha/hộ thì đã lên tới hàng chục ngàn hộ. Đó là nỗi lo của tất cả những ai liên quan đến nông nghiệp.
Một trong những nguyên nhân của tồn tại hiện nay có yếu tố lịch sử. Thời kỳ bắt đầu đổi mới, là tư duy số lượng. Việc thực hiện khoán 10, giao đất cho hộ nông dân đã tạo ra một cú hích rất lớn về mặt chính sách, không phải là khoa học hay đầu tư.
Dân đói, các nhà hoạch định chính sách từ trung ương đến địa phương đều hướng vào số lượng để giải quyết cái ăn. Các nhà khoa học cũng bị tác động bởi tư duy số lượng, phải làm ra những giống lúa mang lại năng suất cao nhất, phải no đã, chưa quan tâm đến ngon.
Đầu tư nông nghiệp tập trung cho thủy lợi, cho cây lương thực và chủ yếu là cây lúa. Sản xuất hộ quy mô nhỏ đã có tác động tích cực, bởi người nông dân nhìn rõ phần lợi ích của mình. Trong thời điểm ấy, tư duy chính sách ấy là rất phù hợp.
Hiện nay, Việt Nam mỗi năm xuất khẩu tới 30% sản lượng gạo, trên 90% cà phê, khoảng 80 – 90% điều và hồ tiêu… Nền nông nghiệp Việt Nam đang rất mở, phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường xuất khẩu, đòi hỏi sản xuất quy mô lớn hơn, hàng hóa có chất lượng cao hơn, độ đồng đều của sản phẩm tốt hơn.
Bây giờ, không phải tính mấy tấn/ha như trước kia nữa mà phải tính bao nhiêu tiền/ha. Sản xuất quy mô nhỏ không còn thích ứng vì chi phí sản xuất quá cao, không đáp ứng được những yêu cầu ngày càng khắt khe của xuất khẩu. Tuy nhiên, “tư duy số lượng” từ đó đến nay vẫn chưa thay đổi kịp.
Thay đổi tư duy, điều quan trọng nhất để chuyển từ nông nghiệp số lượng sang nông nghiệp hiệu quả. Nhưng với bối cảnh nền kinh tế hiện nay, không thể ngay lập tức chuyển hướng sang cây trồng khác, vật nuôi khác, bởi nó đòi hỏi phải đầu tư một năm mấy ngàn tỷ đồng.
Chẳng hạn, Việt Nam mỗi năm nhập gần 3 tỷ USD thức ăn chăn nuôi, trong khi xuất khẩu lúa gạo mỗi năm cũng chỉ được hơn 3 tỷ USD, tại sao không chuyển sang sản xuất thức ăn chăn nuôi?
Thực tế, để có được 3 tỷ USD giá trị từ ngô phải có 3 triệu tấn ngô, mà 3 triệu tấn ngô với năng suất trung bình hiện nay khoảng hơn 5 tấn/ha, cần phải 600 ngàn ha ngô. Vậy, với 600 ngàn ha đất ngô sẽ lấy từ đâu?
Tái cơ cấu gắn với đầu tư, vậy lấy tiền ở đâu để tái cơ cấu nông nghiệp? Riêng việc chuyển từ sản xuất lúa sang ngô, toàn bộ hệ thống tưới phải quy hoạch lại, tập huấn cho nông dân và quan trọng nhất là doanh nghiệp nào sẽ làm việc này? Trồng ngô có yêu cầu thổ nhưỡng, hệ thống thủy lợi khác đất trồng lúa.
Yêu cầu làm đất, đầu tư phân bón cho ngô cũng cao hơn nhiều so với lúa. Hiện ngô chưa được cơ giới hóa, tất cả vẫn làm bằng tay, vậy đầu tư như thế nào để ngô đạt sản lượng cao? Quy mô nhỏ có thể làm được, nhưng với quy mô lớn, sẽ giải bài toán nhân lực như thế nào?
Yếu tố thị trường cũng hết sức quan trọng trong tái cơ cấu nông nghiệp. Nông dân Việt Nam giỏi trồng lúa. Gạo Việt Nam đã có thị trường, lúa làm ra không bán được giá cao, thì vẫn bán được giá thấp, không bán được ngay giữ lại sau này vẫn bán được.
Chuyển sang trồng ngô, nông dân dễ gặp rủi ro, bởi ngô Việt Nam chưa có thị trường, kỹ thuật thâm canh chưa cao, giá công lao động cao, giá bán thấp. Mặt khác, ngô trồng trong nước cũng không cạnh tranh được với ngô nhập khẩu cả về giá và chất lượng.
Hiện giá ngô trên thị trường thế giới rất rẻ do được cơ giới hóa cao, hệ thống sấy đảm bảo. Giá ngô Việt Nam nhập từ các nước Mỹ La tinh chỉ tương đương giá ngô sản xuất trong nước. Nông dân Việt Nam quy mô sản xuất rất nhỏ, chỉ một vụ không tiêu thụ được, tái cơ cấu sẽ thất bại.

PGS.TS. NGUYỄN VĂN BỘ
Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam,
HẢI VÂN ghi

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày,
Danh nhân Việt
, Food Crops News, KimTwitter, KimFaceBook,  CassavaViet, foodcrops.vn
 

Friday, January 24, 2014

Cuối đông đọc lại Văn Công Hùng


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Cuối đông tôi nhấm nháp đọc lại "Tây Nguyên của tôi", "Hồi ức đò dọc"
của Văn Công Hùng. Hai tản văn này là sự tiếp nối trường ca "Lời vĩnh cữu" của anh mà tôi yêu thích. Tìm hiểu văn chương, văn hóa Tây Nguyên, tôi đoan chắc với bạn sau Nguyên Ngọc thì Văn Công Hùng ... là một địa chỉ xanh đáng tin cậy. Đọc thơ Văn Công Hùng thật ngộ. Thơ anh như có nhạc, có ảnh, có cồng chiêng và cả sự tung tẩy: "Anh đã đi qua miền đông miền thu miền hạ, gặp miền em diệu ảo đến không ngờ. Em dâng cho cuộc đời thêm một miền khao khát, đến vỡ oà trái đất giữa miền em. Những xác tín cuộc đời rơi như cát kẽ tay, em chân thật đến tận cùng chân thật, yêu tận cùng mê đắm, tận cùng dâng hiến, tận cùng hy sinh, tận cùng như chưa thể tận cùng. Có gì mong manh hơn nước mắt, nhưng cũng không có gì mạnh bằng nước mắt. Dẫu trong veo nhưng mặn chát nghìn trùng. Ai cũng hiểu nước mắt đâu chỉ là nước mắt, nó là bể dâu sấp ngửa phận người. Nó được chắt ra từ tận cùng khổ đau tận cùng sung sướng, từ tận cùng nhịp thổn thức trái tim. Nó cứng như đá hoa cương, mềm như hoa cải ven sông, mềm hơn cả những gì dịu dàng nhất. Nó là tinh hoa của hạnh phúc, là những điều không thể nói người ơi. Là những điều em đào sâu chôn chặt. Nhưng dẫu chặt đến cỡ nào nước mắt vẫn trào ra. Có những lúc ta ngồi nhâm nhi nước mắt, nghe rưng rưng năm tháng chảy qua đời, nghe phập phù bao điều ân nghĩa, nghe mặn mòi những kỷ niệm vời xa. Mà bến sông xưa con đò giờ xiêu dạt, chớp lưng chừng trời bông gạo tả tơi, một vết cắt ngọt ngào đau rát, dấu chân mòn vệt cỏ chẳng hề xanh. Có đôi mắt nào long lanh sau kẽ lá, em nhìn ai nắng đọng bên rào, em nhìn ai chiều xoay như mắt bão, em nhìn ai chấp chới men rừng. Con đò xưa con đò xưa xa vắng, sông lững lờ thao thiết sông trôi. Ngày hôm nay bỗng dâng đầy nước mắt... Chẳng thể nào anh hiểu hết em đâu, nếu chiều nay em không tiễn ngày đi bằng nước mắt. Nước mắt của một đời im lặng, bỗng vỡ oà trong thăm thẳm chiều trôi. Và anh hiểu phía sau điều tưởng như vặt vãnh ấy là bao la dằng dặc kiếp người. Té ra trong cuộc đời còn biết bao điều bí ẩn mà nếu vô tình ta chẳng thể nhận ra " (trích Lời vĩnh cữu). Đọc văn anh, lại thấy dường như có thơ, có sự dạo chơi tâm tình trò chuyện . Bạn hãy xem trích đoạn mở đầu của Hồi ức đò dọc: "Hôm rồi về quê, bạn tổ chức một cuộc đi thuyền ngược phá Tam Giang. Chao ơi là thênh thang, là rười rượi, là sảng khoái,là mê ly…
Từ bến đò Lê Lợi, thuyền đi xuôi về phố cổ Bao Vinh, chui qua một loạt cây cầu, qua ngã ba Sình, đến cửa Thuận rồi hòa vào phá. Mênh mông và rợn ngợp. Không thấy bờ, tất nhiên. Sóng rất ngoan và nắng rất hiền, gió thì như lên đồng lúc the thẩy lúc ngang tàng nhưng luôn luôn làm cho sự hài hòa không khí đầm phá như là dĩ nhiên nó thế. Rất ấn tượng với hệ thống nò, lưới, với những cái am giữa phá, những lá cờ đỏ phấp phới vừa báo hiệu vừa tâm linh khiến ta có cảm giác vừa rợn ngợp vừa thân thiện…". Riêng tôi thì Tây Nguyên của tôi đúng như Văn Công Hùng tự nhận xét đó là một trong những tản văn ưng ý nhất của anh. Nó hay và sâu sắc đến ám ảnh: "Tây Nguyên đang rời xa đi cái gốc nguyên thủy của nó, đang bị giằng xé dữ dội giữa phát triển và bảo tồn, giữa những vòng quay chóng mặt của ngộ nhận và cố chấp, của cả tự ti và áp đặt, của vênh vang và ngu dốt, của thực dụng và hiếu thắng… Chứ trong tôi, một Tây Nguyên hài hòa, nhân văn, trữ tình và đầy khát vọng nhưng cũng rất khiêm nhường luôn luôn thường trực, một Tây Nguyên biết cứ khi nào con người mỏi chân thì lại hiện lên một cái cây bóng mát, một Tây Nguyên có hẳn một nghi lễ khóc trâu trước khi hiến tế, và một Tây Nguyên cương quyết không lừa thần linh, nên dẫu nhà nước hứa rồi nhưng lại không cho thần linh ăn trâu thì họ mang về làng để làm. Bởi họ không ăn trâu, mà là dâng hiến cho thần linh. Sự dâng hiến tự nguyện và thành kính. Nhân nghĩa thủy chung và cũng rất giữ lời, trung thực một cách cực đoan như vậy đấy, Tây Nguyên của tôi...".
 
Đối với tôi, Miền Trung, Nam Bộ, Tây Nguyên - đất phương Nam - nay sao thân thiết lạ,  xa mà gần, thăm thẳm một vùng thương nhớ. Cám ơn Văn Công Hùng. Cuối đông nhớ bạn.

Video yêu thích