Wednesday, August 20, 2014

Bao giờ Việt Nam có đại học đẳng cấp quốc tế?


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn có loạt ba bài viết gần đây về đại học đẳng cấp quốc tế:  "Mơ đẳng cấp quốc tế nhưng hành động ‘khác người’?". "Giáo sư đem lại danh tiếng cho trường đại học? "  "Bao giờ Việt Nam có đại học đẳng cấp quốc tế?" Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn bình luận: "Vấn đề xoay quanh vòng tròn luẩn quẩn: thiếu người tài dẫn đến nghiên cứu kém chất lượng, nghiên cứu kém chất lượng dẫn đến đại học không có tiếng tốt, đại học không có tiếng tốt dẫn đến khó thu hút người tài. Bốn yếu tố trên tương tác với nhau. Có giáo sư giỏi thì mới có nghiên cứu khoa học có phẩm chất tốt; nghiên cứu sẽ tạo ra “ngôi sao”; ngôi sao sẽ đào tạo sinh viên giỏi; sinh viên giỏi mang tiếng thơm cho trường. Bản thân giáo sư giỏi qua công bố quốc tế cũng tạo danh cho trường. Tôi nghĩ tất cả đều bắt đầu từ con người và nghiên cứu khoa học. Các trường đại học Việt Nam  thiếu cả hai thì rất khó trở thành “đẳng cấp quốc tế” trong tương lai gần. "Tài liệu dưới đây là sự chép lại hệ thống ba bài viết này để đọc lại và suy ngẫm.

Mơ đẳng cấp quốc tế nhưng hành động ‘khác người’?

GS Nguyễn Văn Tuấn

19-08-2014
Rơi rớt tư duy bao cấp
Có các trường đại học đẳng cấp quốc tế, nằm trong bảng xếp hạng Top 500, 200 khu vực và thế giới là mong muốn, mục tiêu của Chính phủ, cũng như là đích phấn đấu của nhiều lãnh đạo các đại học VN. Thế nhưng, trong thực tế đây đó vẫn còn những tư duy lỗi thời về nghiên cứu khoa học (NCKH), và có thể nói là làm cản trở sự hội nhập của đại học VN.
NCKH là hoạt động không thể thiếu của một đại học nếu muốn vươn đến đẳng cấp thế giới. Một thành quả quan trọng của NCKH là công bố quốc tế, có thể là tại các hội nghị khoa học uy tín hoặc trên các tập san khoa học có bình duyệt. Do đó, trường đại học tại các nước tiên tiến thường có chính sách khuyến khích nghiên cứu sinh, giảng viên, nhà khoa học nâng cao sự hiện diện trong các hội nghị và trên các tập san qua các bài giảng và bài báo khoa học.
Thế nhưng ở VN, vẫn còn những đại học mà lãnh đạo chưa khuyến khích hoạt động này. Chẳng hạn, đối với nhà khoa học, việc tham dự và trình bày kết quả trong các hội nghị quốc tế hàng năm là rất quan trọng. Vậy mà có đại học lại ra qui định giảng viên không được đi dự hội nghị nước ngoài quá 2 lần/ năm, không có ngoại lệ! 
Thoạt nghe, qui định này cũng có lí, nhằm ngăn ngừa những người lợi dụng hội nghị để… đi chơi. Nhưng đi dự hội nghị khoa học cũng có vài tư cách khác nhau: người tham dự, không có trình bày báo cáo; người đi dự có báo cáo; và quan trọng hơn cả là người được mời đến giảng.
Người được mời giảng được xem là một người có đóng góp quan trọng, nên ban tổ chức thường lo tiền vé máy bay cũng như ăn ở. Sự có mặt của họ trong các hội nghị, trên bục giảng là vinh dự cho trường đại học họ đại diện, là một cách quảng bá tuyệt vời cho tên tuổi trường. Tuy nhiên, với qui định hạn chế số lần đi dự hội nghị nước ngoài, vinh dự này cũng có thể “tan thành mây khói”.


Ở các đại học phương Tây, có những giáo sư uy tín đi nước ngoài giảng thường xuyên như… “đi chợ”. Trường không cần chi trả cho họ đồng nào mà còn được lợi về danh tiếng. Cứ mỗi cuối năm, trường đại học thường hay “khoe” trong báo cáo về số giảng viên và nhà khoa học của trường được mời đi báo cáo ở nước ngoài.
Còn nếu nói cần ngăn ngừa các trường hợp “đi chơi” thì cũng có nhiều cách khác. Chẳng hạn, ở Viện Garvan của tôi, người ta không hạn chế số lần đi dự hội nghị, miễn là phải có báo cáo được chấp nhận cho trình bày, và phải báo cáo thời gian dự hội nghị, thời gian giải trí để họ trả lương thích hợp.
Nói về mời giảng, tôi liên tưởng đến câu chuyện vị lãnh đạo của một đại học VN phàn nàn tại sao ban tổ chức hội nghị lại gửi giấy mời trực tiếp cho giáo sư của trường. Theo ông, họ phải gửi cho hiệu trưởng, và ban giám hiệu sẽ phân công người đi dự hay đi giảng bài! Có lẽ đây là một tư duy độc đoán còn sót lại thời bao cấp, cái gì cũng phải qua lãnh đạo và nó cho thấy ông ấy không am hiểu “luật chơi” của khoa học quốc tế.
Chuyện nhỏ mà không nhỏ
Một vấn đề khác là công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế có khi phải trả tiền ấn phí, thường khoảng 400 - 1000 USD. Nhiều trường đại học ở VN ý thức được tầm quan trọng của hoạt động này, nên rất khuyến khích giảng viên, nhà khoa học và sẵn sàng trả tiền ấn phí.

Tuy nhiên, vẫn có những đại học lớn, thậm chí tầm quốc gia chẳng những chưa xem trọng công bố quốc tế, mà nếu giảng viên có công bố thì cũng không trả tiền ấn phí. Lãnh đạo các đại học này suy nghĩ rằng, việc công bố là đem lại lợi ích cho cá nhân của giảng viên, chẳng liên quan gì đến trường! Theo tôi, đó là một tư duy thiển cận. Công bố quốc tế là một cách đóng góp để nâng cao sự hiện diện của khoa học VN trên trường quốc tế. Ở nước ngoài, khi giảng viên có bài trên các tập san uy tín, người ta tổ chức ăn mừng và thưởng cá nhân tác giả đến hàng nghìn USD. Ngay như tại TQ, các đại học cũng có ngân sách khuyến khích công bố quốc tế bằng cách thưởng tiền tuỳ theo hệ số ảnh hưởng của tạp chí. Một điểm nữa, ở các đại học phương Tây, người ta khuyến khích (có nhiều nơi qui định) nghiên cứu sinh công bố bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án; hoặc nếu không kịp thì cũng công bố trong các hội nghị chuyên ngành có uy tín. Nhưng ở VN, có đại học lại ra qui định nghiên cứu sinh không được công bố bài báo khoa học trước khi bảo vệ luận án! Đây là một qui định “ngược”, ngay cả đối với phần lớn các đại học VN.

Còn nhiều qui định và những “câu chuyện nho nhỏ” như thế trong thực tế. Bề ngoài, chúng có vẻ rất nhỏ nhặt, nhưng thực tế đó là sản phẩm của những tư duy lỗi thời, bao cấp, độc quyền và làm cản trở sự hội nhập của đại học VN trên trường quốc tế. Quan điểm và chính sách chung của Chính phủ thì khá rõ ràng, nhưng khi xuống đến đại học thì mỗi nơi lại hiểu và làm mỗi khác, có lẽ tuỳ thuộc vào cá nhân lãnh đạo. 


Nếu lãnh đạo là nhà khoa học từng làm nghiên cứu, từng biết cái gian nan của công bố quốc tế cũng như ý nghĩa của nó, thì hẳn rất thấm chủ trương của Chính phủ và tạo điều kiện cho giảng viên công bố quốc tế. Nhưng nếu lãnh đạo đại học chưa quen với qui trình đó thì cách hiểu về “đẳng cấp quốc tế” có thể chưa thấu đáo và dẫn đến những qui định khó hiểu.  

Có lẽ đã đến lúc phải “thống nhất tư tưởng” về NCKH và tầm quan trọng của nó trong việc nâng cao uy danh của đại học và danh dự VN. Trong bảng xếp hạng đại học của nhóm QS, nghiên cứu khoa học chiếm 60% điểm xếp hạng. Sự thật đơn giản này cho thấy nếu đại học VN muốn có tên trong bảng xếp hạng “Top 500” hay “Top 200” thì phải nâng cao NCKH và chất lượng công bố quốc tế. Ngay cả những đại học chưa có mộng có tên trong QS (hay bất cứ bảng xếp hạng nào) vẫn phải xem công bố quốc tế là quan trọng, vì nghĩa vụ đóng góp vào khoa học VN. NCKH bắt đầu từ con người, cụ thể là giảng viên và nhà khoa học. Do đó cần phải khuyến khích (bằng tiền thưởng hay các hình thức sự nghiệp khác) và ghi nhận xứng đáng các nhà khoa học có công trình công bố quốc tế.   

Giáo sư đem lại danh tiếng cho trường đại học?
 
GS Nguyễn Văn Tuấn
 
19-08-2014  

Có người cho rằng không có giáo X kia thì ai biết đến đại học Y. Nói cách khác, họ cho rằng sự danh tiếng [nếu có] của đại học Y là nhờ vào danh tiếng [nếu có] của giáo sư X. Tất nhiên, chúng ta chỉ nói đại học ở VN (vì đại học nổi tiếng ở nước ngoài thì là một câu chuyện khác). 
Tôi nghĩ quan điểm “nhờ X thì Y mới nổi tiếng” là một sai lầm, nếu không muốn nói là ảo tưởng. Chúng ta phải hiểu “nổi tiếng” ở đây là có tiếng tốt, chứ không phải tiếng xấu. Tiếng tốt rất khó định lượng cho chính xác. Trường thì có tiếng về ngành kinh tế, nhưng kém với khoa học; trường thì vang danh về y khoa; lại có trường nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực. Có trường sinh viên ra tìm việc làm dễ và nhanh, có trường tốt về cơ sở vật chất, lại có trường giỏi về nghiên cứu khoa học. Làm sao cân đo đong đếm các khía cạnh đó là một vấn đề nan giải. Người ta thường dựa vào các bảng xếp hạng đại học trên thế giới để đánh giá cái gọi là “nổi tiếng”. Có tên trong các bảng xếp hạng “Top 500” có thể xem là nổi tiếng. Chắc chắn không chính xác 100%, nhưng đại khái các bảng xếp hạng cũng phản ảnh khá đúng với cảm nhận của công chúng. Ví dụ như nói Mahidol University, ai cũng biết là ở Thái Lan và nổi tiếng; nói đến Stanford, ai cũng biết trường này ở Mĩ và nổi tiếng. Bảng xếp hạng do đó có thể xem là một dấu ấn gián tiếp (surrogate marker) của nổi tiếng.

Không có đại học nào của VN là có tiếng trên trường quốc tế. Thật vậy, cho đến nay chẳng có bất cứ một đại học nào của VN nằm trong bảng xếp hạng danh tiếng của QS, THE, AWRU. Điều này dễ hiểu, bởi vì các đại học VN còn rất lu mờ trong nghiên cứu khoa học. Chẳng ai biết và cũng chẳng ai quan tâm đến đại học VN vì họ chẳng có đóng góp gì đáng chú ý cho khoa học và cho cộng đồng quốc tế. Ngay cả các đại học lớn trong vùng cũng chẳng xem các đại học VN ra gì, vì khoảng cách về nghiên cứu giữa họ và các đại học hàng đầu ở VN quá xa và càng xa theo thời gian.

VN cũng chưa có một giáo sư hay một nhà khoa học nào đứng vào hàng các nhà khoa học “eminent” (lừng danh) trên thế giới. Dĩ nhiên, VN có vài nhà khoa học có tiếng trên thế giới trong chuyên ngành của họ, nhưng ngay cả trong chuyên ngành, cái “có tiếng” đó cũng chỉ là hạng trung bình hay trên trung bình một chút. Theo tôi biết, VN chưa có một nhà khoa học được mời diễn thuyết trong phiên họp khoáng đại của các hội nghị số 1 trong chuyên ngành. Điều này có lẽ không khó hiểu, vì VN cũng chỉ mới hội nhập quốc tế trong thời gian gần đây, và nghiên cứu khoa học cũng chỉ mới được quan tâm khi có người chỉ ra sự tụt hậu của VN trên trường quốc tế.

Sự nổi tiếng của đại học VN, do đó, không phụ thuộc vào giáo sư ở VN. Nói đúng ra, như nói trên không có một đại học VN nào nổi tiếng trên thế giới, và giáo sư cũng chưa nổi tiếng trên thế giới, thì tích số của hai yếu tố phải là số không.

Ở nước ngoài, có một số giáo sư Việt kiều nổi tiếng thật sự trong chuyên ngành của họ, nổi tiếng theo tiêu chí mà tôi mới đề cập ở trên. Nhưng tôi nói “một số”, chứ không nhiều như báo chí VN hay ảo tưởng. Bên cạnh một số giáo sư nổi tiếng đó, còn có nhiều giáo sư khác tuy không nổi tiếng nhưng họ có khả năng PR rất tốt trên báo chí VN và tự dưng họ trở thành nổi tiếng. Họ cũng là giáo sư ở nước ngoài, có thể từ các trường đại học danh tiếng nhưng phần lớn là xuất phát từ các trường làng nhàng. Họ có ý nguyện giúp VN, và khi về VN so với đồng nghiệp trong nước họ thấy mình cao hẳn lên. Từ đó họ ảo tưởng rằng mình là số 1 trên thế giới! Số này không nhiều, nhưng báo chí tung ca nhiều quá nên công chúng tưởng là nhiều.

Các trường đại học VN rất muốn nâng cao “thương hiệu” của họ trên trường quốc tế, và cũng là cách góp phần đưa tên tuổi VN trong trường khoa học. Do đó, họ rất cần nghiên cứu khoa học, lĩnh vực mà họ yếu nhất. Từ đó, họ cần sự giúp đỡ và hợp tác của các giáo sư nước ngoài, kể cả giáo sư Việt kiều. Một số ít giáo sư Việt kiều có tâm về hẳn VN để làm việc, và họ thường âm thầm. Nhưng số nhiều giáo sư Việt kiều thì chỉ như “đi mây về gió”, lâu lâu nói chuyện trong seminar, ghé thăm như “cưỡi ngựa xem hoa” chứ chẳng giúp gì nhiều. Do đó, có trường theo mô hình “nhóm nghiên cứu” (research group) để giúp các giáo sư Việt kiều có lab và có cơ sở để hợp tác lâu dài cho dù là ở nước ngoài.

Thế giáo sư Việt kiều có làm cho đại học VN nổi tiếng? Tôi nghĩ câu trả lời là KHÔNG. Một cây làm chẳng nên non. Cho dù một trường đại học có thể thu hút giáo sư Việt kiều nổi tiếng lừng danh hay nổi tiếng, thì sự hiện diện của giáo sư đó vẫn không thể giúp các đại học VN nổi tiếng được. Trường có tiếng về một lĩnh vực vẫn chưa thể nói là nổi tiếng được. Nổi tiếng đòi hỏi sự đồng bộ của nhiều lĩnh vực.

Nói đến nổi tiếng theo cái nhìn của công chúng trong nước chắc người ta nghĩ đến ĐHQGHN và ĐHQGHCM. Nhưng nếu hỏi họ 2 đại học đó nổi tiếng về cái gì, thì có thể phần lớn chẳng ai trả lời được. Không trả lời được là vì cả hai trường chẳng có công trình khoa học gì để gọi là “nổi bậc”. Có thể nói tất cả các đại học VN đều như thế, trường nào cũng như trường nào về tiếng tăm trong khoa học, chưa có trường nào có công trình gọi là “flagship” để công chúng nhận ra dễ dàng.

Do đó, tôi nghĩ sự có mặt của các giáo sư Việt kiều, cho dù là giáo sư danh tiếng, ở các đại học VN sẽ khó làm cho đại học nổi tiếng. Suy nghĩ kiểu “không có giáo sư X chắc chẳng ai biết đến trường Y” theo tôi là cực kì trẻ con đến bất ngờ. Tôi nghĩ các giáo sư Việt kiều chân chính không ai ảo tưởng rằng sự có mặt của họ sẽ làm đại học nổi tiếng; họ chỉ nghĩ góp một tay vào việc xây dựng thương hiệu cho đại học qua nghiên cứu khoa học và giảng dạy.


Bao giờ Việt Nam có đại học đẳng cấp quốc tế ?

GS Nguyễn Văn Tuấn

19-08-2014


Đại học Giao thông Thượng Hải của Tàu mới công bố danh sách “top 500” đại học trên thế giới (1). Không có một đại học VN nào trong danh sách. Câu hỏi mỗi năm lại đặt ra: bao giờ VN có đại học nằm trong top 500? Câu trả lời đơn giản là “còn rất lâu”. Phải cần một thời gian dài, một cuộc cách mạng trong suy nghĩ, những hành động tích cực về nghiên cứu khoa học, chúng ta mới có thể nghĩ đến đại học VN có tên trong các bảng xếp hạng top 500. Còn hiện tại, chỉ nên lo cải tổ và làm nghiên cứu khoa học cho thật tốt, chứ đừng đặt câu hỏi “bao giờ cho đến bao giờ”.


Báo Lao Động (2) có đặt câu hỏi theo kiểu khiêu khích Bộ trưởng (“Top 500 chờ “trận đánh lớn” của Bộ trưởng Luận”). Cần nhắc lại rằng cách đây vài tháng, ngài Bộ trưởng GDĐT tuyên bố rằng cải cách giáo dục là một “trận đánh lớn”. (Ông bộ trưởng này có vẻ thích quân sự, vì mới đây vài ngày ông có một phát ngôn mang mùi súng đạn). Nay nhà báo đem chữ đó ra làm cái “twist of the tongue” hỏi ngài bộ trưởng. Tuy nhiên, bài báo viết rằng do chất lượng đào tạo còn thấp nên các đại học VN chưa có trong top 500. Theo tôi quan điểm đó chưa hẳn đúng. Vấn đề “top 500” không phải là chất lượng đào tạo, mà là nghiên cứu khoa học.



Điều đáng chú ý năm nay là trong khối ASEAN nước mới nổi trong giáo dục đại học là Mã Lai Á có 2 đại học trong top 500: đó là Đại học Malaya và Đại học Khoa học Malaysia (USM). Hai đại học này trước đây còn kém hơn Mahidol và Chulalongkorn của Thái Lan, nhưng khoảng 5 năm trước họ đã vượt qua hai đại học danh tiếng của Thái Lan một cách ngoạn mục. Họ vượt qua Thái Lan không phải do đào tạo của họ có chất lượng hơn Thái Lan, mà là nghiên cứu khoa học của họ tốt hơn 2 đại học hàng đầu của Thái Lan. Trong thời gian 2006-2010 ĐH Malaya công bố 6755 bài báo khoa học trên các tập san ISI, vượt qua Mahidol (6217). Nên nhớ trước 2006, ĐH Mahidol đứng hạng cao hơn ĐH Malaya.

Cả hai đại học của Mã Lai trong top 500 đều còn “trẻ”. USM chỉ mới thành lập năm 1969, tức mới 45 năm. Ngay cả ĐH Malaya cũng chỉ thành lập từ năm 1949, tức 65 tuổi đời. Hai đại học này đều có “tuổi đời” trẻ hơn các đại học lâu đời của VN. ĐH Bách Khoa Sài Gòn thành lập năm 1957, ĐH Khoa học Sài Gòn và ĐH Khoa học Hà Nội thành lập từ 1949, tức cùng năm với ĐH Malaya. Nhưng khác với các đại học VN còn đang mơ mộng đẳng cấp, hai đại học Mã Lai đã vươn lên nhanh chóng trong vòng 20 năm qua và trở thành tên tuổi trên trường quốc tế. Điều này minh chứng cho phát biểu tôi từng nói trước đây là một số đại học chỉ cần 30-40 năm là trở thành đẳng cấp quốc tế. Tại sao VN vẫn chưa có đại học nào đạt tiêu chuẩn đó. Đó là một vấn đề cần phải suy nghĩ …

Theo tôi câu trả lời rất đơn giản là đại học VN chưa có thương hiệu trong trường khoa học quốc tế. Tôi có cảm giác ở nước ngoài giới khoa học chẳng ai biết đến hay quan tâm đến đại học VN. Tôi thỉnh thoảng nói về đại học VN làm cái này cái kia, họ chỉ ậm ừ, chẳng quan tâm. Nhiều lần như thế tôi đi đến kết luận rằng các đại học VN và nhà nghiên cứu VN chưa tạo được dấu ấn, chưa có thương hiệu khoa học. Mấy tuần trước, khi ngồi trong hội đồng cố vấn faculty của UTS, tôi thấy các thành viên tiêu ra gần nửa ngày để thảo luận phải làm gì để nâng cao thương hiệu trên trường quốc tế (UTS có trong bảng top 500, hình như là hạng 300-400 gì đó, nhưng UTS chưa hài lòng với hạng đó). Chúng tôi đi đến kết luận thương hiệu khoa học của một đại học chủ yếu được xây dựng qua nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên và giáo sư, và sinh viên tốt nghiệp.

Xét trên cả ba khía cạnh tôi nghĩ các đại học VN khó có cơ may trở thành “đẳng cấp quốc tế”. Sau đây là một vài lí do giải thích tại sao:

Trước hết là về nghiên cứu khoa học. Ba đại học có nhiều công bố quốc tế nhất ở VN là [theo thứ tự] Đại học Quốc gia (ĐHQG) TPHCM, ĐHQG Hà Nội, và Đại học Bách khoa Hà Nội. Hai ĐHQG công bố nhiều vì nhân sự đông hơn các trường khác, chứ không có nghĩa là năng suất khoa học cao. Tuy nhiên, mỗi năm ĐHQG-HCM cũng chỉ công bố trên dưới 150 bài. Con số này còn rất khiêm tốn nếu so với các trường trong vùng. Chẳng hạn như Đại họcChulalongkorn, Mahidol, Malaya, mỗi năm công bố được từ 1700 đến 2500 bài. Còn so với ĐHQG Singapore thì con số công bố quốc tế của các đại học hàng đầu VN chẳng có ý nghĩa gì! (Năm 2009, ĐHQG Singapore công bố 4285 bài, tương đương với ĐH Sydney của Úc; cùng năm, ĐHQG Seoul công bố 5120 bài). Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của các đại học hàng đầu VN còn quá kém và quá lu mờ so với các đại học lớn trong vùng.

Nếu số công trình của VN tăng 20% mỗi năm và liên tục, thì cũng phải tốn 15 năm ĐHQG-HCM mới bằng ĐH Mahidol và 20 năm sau mới bằng ĐHQG Seoul năm 2009. Như vậy có một khoảng cách rất xa về nghiên cứu khoa học giữa các đại học hàng đầu VN và đại học đẳng cấp quốc tế.

Một điểm khác cũng đáng chú ý là phần lớn những bài báo khoa học từ VN là do hợp tác quốc tế. Hiện nay, khoảng 70-80% các bài báo khoa học từ VN hoặc là kết quả của hợp tác quốc tế hoặc do nghiên cứu sinh đi học ở nước ngoài cùng nghiên cứu với thầy cô ở nước ngoài. Số bài báo “thuần Việt Nam” (tức tất cả tác giả và công trình thực hiện ở VN) còn rất ít. Điều này nói lên rằng khoa học VN đang trong thời kì hay có nguy cơ lệ thuộc.

Thứ hai là tầm ảnh hưởng của các đại học VN trong khoa học cũng rất thấp. Trong một phân tích trước đây, tôi có chỉ ra rằng gần 50% những bài báo công bố quốc tế của VN chưa bao giờ được trích dẫn (có ngành như kĩ thuật con số lên đến 70%). Ngay cả số bài báo được trích dẫn thì cũng rất thấp. Tính trung bình chỉ số trích dẫn 10 năm của các bài báo khoa học từ ĐHQGHCM là 3.5, còn rất kém so với ĐHQG Singapore là 8.82. Sau đây là vài con số để chúng ta so sánh về chất lượng khoa học của vài trường tiêu biểu (tất cả là tính trong thời gian 5 năm 2006-2010):

Số bài báo khoa học ĐHQG-HCM: 720 bài ĐH Malaya: 6755 ĐH Mahidol: 6217 ĐHQG Singapore: 28972 ĐHQG Seoul: 27089 UNSW (Úc): 21459 ĐH Sydney: 26865

Chỉ số tác động (% cao hơn hay thấp hơn trung bình thế giới) ĐHQG-HCM: 26.9 ĐH Malaya: 26.9 ĐH Mahidol: 47.7 ĐHQG Singapore: 54.9 ĐHQG Seoul: 60.6 UNSW (Úc): 57.1 ĐH Sydney: 61.8

Chỉ số xuất sắc (là % bài báo được trích dẫn nhiều nhất; “nhiều” ở đây là nằm trong nhóm “top 10%” trong mỗi chuyên ngành) ĐHQG-HCM: 16.1 ĐH Malaya: 18.1 ĐH Mahidol: 9.9 ĐHQG Singapore: 13.1 ĐHQG Seoul: 19.7 UNSW (Úc): 17.9 ĐH Sydney: 18.0

Thứ ba là đội ngũ giáo sư, giảng viên và nhà khoa học. VN chưa có một giáo sư hay một nhà khoa học nào đứng vào hàng các nhà khoa học “eminent” (lừng danh) trên thế giới. Dĩ nhiên, VN có vài nhà khoa học có tiếng trên thế giới trong chuyên ngành của họ, nhưng ngay cả trong chuyên ngành, cái “có tiếng” đó cũng chỉ là hạng trung bình hay trên trung bình một chút. Theo tôi biết, VN chưa có một nhà khoa học được mời diễn thuyết trong phiên họp khoáng đại của các hội nghị số 1 trong chuyên ngành. Chính vì thế mà VN chưa có dấu ấn khoa học trên trường quốc tế.

Nói ngoài lề một chút, ngay cả đi dự hội nghị nước ngoài mà còn bị hạn chế thì nói gì đến chuyện giáo sư VN có thể quảng bá đại học của mình. Những chuyện nhỏ như thế có tầm ảnh hưởng lớn đến thương hiệu của đại học.

Thứ tư là sinh viên tốt nghiệp trong môi trường toàn cầu hoá. Có thể nói rằng các đại học VN hiện nay chỉ đào tạo chuyên viên cho thị trường lao động ở VN là chính, chứ chưa thể vươn ra thế giới. Nhưng chất lượng đào tạo nói chung chưa cao. Ngay cả ở trong nước các sinh viên ra trường cũng chưa đáp ứng yêu cầu của kĩ nghệ. Khi được hỏi nguồn nhân lực công nghệ cao của VN ở đâu trên thế giới, tổng giám đốc Intel Việt Nam cho biết “lực lượng lao động trong lĩnh vực này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về cả số lượng lẫn chất lượng trước nhu cầu tuyển dụng.” Sau khi tuyển dụng được nhân viên, Intel vẫn phải gửi họ sang Malaysia để đào tạo.

Đào tạo trong nước còn chưa đạt, thì làm sao nói đến chuyện đào tạo cho nhân lực toàn cầu. Đại học là một trung tâm khoa học và văn hoá quốc tế, nhưng số sinh viên và giảng viên nước ngoài ở các đại học VN hầu như chỉ đếm đầu ngón tay. Đại học VN vẫn chưa có tính quốc tế. Chưa có quốc tế hoá thì nói gì đến “đẳng cấp quốc tế”.

Bốn yếu tố trên tương tác với nhau. Có giáo sư giỏi thì mới có nghiên cứu khoa học có phẩm chất tốt; nghiên cứu sẽ tạo ra “ngôi sao”; ngôi sao sẽ đào tạo sinh viên giỏi; sinh viên giỏi mang tiếng thơm cho trường. Bản thân giáo sư giỏi qua công bố quốc tế cũng tạo danh cho trường. Tôi nghĩ tất cả đều bắt đầu từ con người và nghiên cứu khoa học. Các trường đại học VN thiếu cả hai thì rất khó trở thành “đẳng cấp quốc tế” trong tương lai gần.

Cơ chế hiện nay chưa cho phép các trường đại học VN thu hút nhân tài trên thế giới. Thật ra, cho dù VN có cơ chế và tiền bạc để thu hút nhân tài, các giáo sư đẳng cấp quốc tế cũng ngần ngại đến VN vì các đại học VN chưa có “thương hiệu” trong khoa học và cũng chưa biết tương lai ra sao. Mỗi người thường chỉ có 5-10 năm để dấn thân vào một thách thức mới, nếu cuộc dấn thân thất bại thì sự nghiệp coi như thất bại. Do đó, vấn đề lại xoay quanh vòng tròn luẩn quẩn: thiếu người tài dẫn đến nghiên cứu kém chất lượng, nghiên cứu kém chất lượng → đại học không có tiếng tốt → khó thu hút người tài.

VN vẫn hay hô hào “đẳng cấp quốc tế” nhưng tiếc thay phần lớn có vẻ chỉ nặng về hình thức. Chẳng hạn như 6 năm trước, ĐHQG-HN có kí kết hợp đồng với Tập đoàn Dầu khí (3) để xây kế hoạch có giải Nobel! Cho đến nay, chưa biết khả năng có giải Nobel là bao nhiêu, nhưng rõ ràng đó là một điều rất bất khả thi. Giải Nobel không có được từ hợp đồng, mà từ nghiên cứu khoa học có phẩm chất cao. Một hình thức khác là xem nghiên cứu khoa học như là một phong trào. Khắp nơi người ta làm nghiên cứu để có cái chứng từ làm … “chiến sĩ thi đua”. Đó là những cách làm rơi rớt từ thời bao cấp XHCN. Không ai khuyến khích nghiên cứu khoa học như kiểu VN.

Tôi nghĩ nên dẹp bỏ những hình thức như thế, và thay vào đó là khuyến khích các nhà khoa học làm nghiên cứu có chất lượng cao và công bố trên các tập san tốt. Cần phải có hình thức tưởng thưởng những nhà khoa học có thành tích tốt. Tôi tính ra mỗi đại học lớn như ĐHQG - HCM hay ĐHQG-HN chỉ cần tổ chức lại lực lượng nhà khoa học theo nhóm, và chỉ cần chừng 1000 nhà nghiên cứu (dĩ nhiên kể cả nghiên cứu sinh) công bố thường xuyên. Với lực lượng đó thì số bài báo mỗi năm dễ dàng đạt con số 1500-2000. Chỉ vài năm là có “momentum” để tiến lên một nấc cao hơn. 

Một khi đã có số lượng, bước kế tiếp là nâng cao phẩm chất. Từ đó, giấc mộng đẳng cấp quốc tế sẽ không xa.

Nguyễn Văn Tuấn


 
 

Tuesday, August 19, 2014

Thư của Bà Trưng gửi lão Hâm


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Sáng nay thăm anh  Phan Chi Thắng, tôi gặp thư của Bà Trưng gửi lão Hâm.




Cháu Hâm thân mến!

Bà ngại lắm, nhưng vẫn cố viết thư này gửi cháu.


Ngại thứ nhất là bà hơn cháu đúng 100 thế hệ, nếu tính 20 năm là một thế hệ. Chả nhẽ xưng cụ mấy chục lần cụ gửi cháu mấy chục lần cháu thì nghe lạ tai và buồn cười quá?

Ngại thứ nhì là bà không biết chữ Việt hiện đại, phải nhờ một nhà ngoại cảm ghi lại rồi vào Google Translate dịch ra cho cháu hiểu.

Ngại nhưng vẫn phải viết.


À, bà cần giải thích thêm là vì sao bà lại gửi thư cho cháu mà không gửi cho ai khác? Vì bà nghĩ bây giờ người hâm nói ra có khi người ta còn tin hơn là người normal cháu ạ. (Ghi chú: Chỗ này Google dùng từ normal)

Sự việc là vừa rồi bà nghe tin Thành phố Hà Nội định tổ chức kỷ niệm long trọng 2000 năm ngày sinh của bà. Bà vừa mừng vừa lo. Mừng và lo đến nỗi suýt nữa thì bà đội mồ sống lại.
Mừng vì đàn cháu chắt chút chít chụt chịt 100 đời của bà vẫn nhớ đến bà. Thật là thơm thảo!

Lo là chính bà đây cũng không có cách nào biết ngày sinh của mình. Đã có lần bà hỏi thân mẫu thì thân mẫu, nghĩa là mẹ của bà bảo rằng cụ chỉ nhớ sinh ra bà vào cái đận lụt lớn, ngay sau vụ một đàn voi rừng về phá nát ruộng nương. Vậy thì ngày nào, năm nào, tháng nào, bà chả làm sao tra lịch Vạn niên ra được.


Đã mang thân là anh hùng dân tộc, chả nhẽ bà nhận xằng, mà nhận xằng khác gì nói dối?
Hôm nay, nỗi lo của bà đã vợi đi quá nửa, khi nghe tin Lãnh đạo Hà Nội quyết định tạm hoãn tổ chức lể kỷ niệm ngày sinh của bà. Thế là OK, sẽ OK hơn nữa là đừng có bao giờ làm việc đó (Ghi chú: văn phong của Google)

Nhân đây bà muốn nhờ cháu một việc. Cháu có quen ai trên Thành phố không? À quên , bà hỏi hơi bị thừa, thời này làm quen dễ lắm, miễn là có money. (Ghi chú: Google dịch dở ẹc!)
Nhờ cháu nhắn giúp bà tới các vị lãnh đạo thành phố:

1. Bỏ cái trò tạ sự lễ hội mí lại kỷ niệm ngày sinh ngày sọt. Ai anh hùng là anh hùng trong lòng dân. Hai ngàn năm nay không kỷ niệm ngày sinh của Bà Trưng thì Bà Trưng có biến thành Bà Tưng đâu mà sợ?


Làm tốn tiền dân, mà dân bây giờ chả vừa, hơi tý lại bảo các quan vẽ chuyện để xơi.

2. Dùng số tiền đáng ra tổ chức lễ hội để lo cho việc cấp và thoát nước của thành phố. Ai đời thành phố to nằm trong Top Ten của thế giới mà lúc thì mấy ngàn hộ dân không có nước sinh hoạt, lúc thì mới mưa sơ sơ phố đã thành sông?

3. Mục thứ ba này là xuất xứ từ mục số 2 nói trên.


Nếu cực chẳng đã phải tổ chức sinh nhật cho ai đó, tốt nhất là làm cho ông Sơn Tinh. Ông này sẽ giúp chống lại Thủy Tinh một cách có hiệu quả. Sẽ không sợ thiếu nước sạch và thừa nước thải.


Dưng cơ mà đành phải bịa ra ngày sinh của ông ấy. Vì ngay ông ấy, khác bà, là chả biết mẹ mình là ai để hỏi cho biết ngày ông ấy ra đời. Mặc dù bà có mẹ cũng coi như không, tất nhiên là về phương diện xác định ngày sinh.

Nhiều khi bịa đặt mà được việc thì cũng nên bịa cháu ạ.

Đấy bà có mấy ý kiến thế thôi, giấy vắn tình dài.

Cuối cùng bà muốn nói là bà yêu cháu!

Nguồn: Lão Hâm (Phan Chí Thắng * )

(*) Đọc "Mụ Thìn" truyện Phan Chí Thắng

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Saturday, August 16, 2014

Đọc "Mụ Thìn" truyện Phan Chí Thắng


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Mụ Thìn, lại thêm một truyện ngắn hay của anh Phan Chí Thắng. Món ngon xin kiệm lời bình, chép lại đọc và suy ngẫm. Chọn ảnh minh họa gì đây ? Có lẽ ảnh hợp nhất vẫn là Trước đèn/ Bài học cuộc sống  (Hoàng Kim)

Mụ Thìn


I.
Đáng ra phải viết một tiểu thuyết về mụ. Nhưng lão Hâm không nhiều chữ như Nguyễn Khắc Phục, không tưởng tượng giỏi như Nguyễn Quang Vinh nên tạm ghi lại một vài nét về mụ.

Mụ đẹp. Đó là đánh giá của khoảng một nửa số đàn ông có biết mụ. Mụ rất đẹp. Đó là đánh giá của chính mụ.
Mụ cao, phốp pháp. Có người bảo thế là phồn thực. Nụ cười tươi. Riêng cặp mắt lúc nào cũng như van vỉ: "Em yếu đuối lắm anh ơi!"

Thời còn bao cấp, mụ được tiếng là giỏi kinh doanh. Không phải là giới kinh doanh đánh giá, mà các sếp trên Tổng công ty và trên bộ bảo thế.
Thời đó, chạy được "bổ sung vốn" là sống ung dung rồi. Chạy được "chậm nộp thuế" là có của ăn của để. Chạy được Công an kinh tế với các kiểu thanh tra kiểm tra "ủng hộ" là bạn sạch như tờ giấy trắng, thơm như chính tờ giấy trắng đó có xịt thêm nước hoa Chanel 5, đêm ngủ ngáy o o.

Mụ xài Chanel 5. Khoảng những năm 1990 thế là thời thượng, là quý tộc.
Mụ xài đàn ông, việc này những năm đó bắt đầu thời thượng. Cái giỏi của mụ là mụ xài đàn ông nhưng đàn ông nào cũng tưởng là mình xài được mụ.
Nhờ thế mụ được tiếng giỏi kinh doanh, công ty nhiều năm được khen thưởng. Công thức của mụ là dùng vốn tự có thu hút hoặc tiếm dụng vốn nhà nước. Mặc dù thất thoát hàng hóa và vốn khá lớn.

Mụ nhiều nhân tình đến nỗi ngay trong công ty, nếu mụ đang tiếp ông phó giám đốc này trong phòng giám đốc thì ông phó kia đứng ngồi không yên, nhấp nhổm chạy ra hành lang hút thuốc lá vặt, mắt đánh về phía cửa phòng giám đốc.
Mụ nhiều nhân tình đến nỗi thiên hạ đồn rằng mụ yêu cầu Văn phòng trang bị cho mụ một cái tủ giống như tủ của cửa hàng thuốc Bắc. Rất nhiều ô kéo. Mỗi ô kéo đựng ảnh, thư, thơ tình của một người tình.
Liên quan đến ai thì kéo cái ô của người đó ra, chả bao giờ nhầm lẫn.

Mụ có người tình trên bộ chủ quản, Bộ tài chính, Cục Thuế, tóm lại là ở các cơ quan hữu quan.
Mụ có người tình khắp trong Nam ngoài Bắc, ở các đại lý của công ty mụ.
Mụ có người tình già hơn mụ vài ba chục tuổi, và cả người tình bằng tuổi con mụ.

II.
Mụ Thìn có chồng và hai con. Chồng mụ là sĩ quan quân đội, cao ráo, đẹp trai. Gặp chồng mụ, ai cũng phải cố tìm giải đáp cho hai câu hỏi:
- Có chồng đẹp trai, đàng hoàng thế mà sao mụ vẫn thích bồ bịch, vì không phải bồ nào cũng chỉ vì mục đích công việc?
- Vì sao tay chồng lại chấp nhận vợ "sáng ăn chả chiều ăn nem" như vậy? Thằng mù cũng còn nhìn thấy mụ ấy ba bè bảy mối cơ mà?

Người ta tự tìm câu trả lời, trả lời được ở mức độ nào là tùy họ.
Rất có thể là anh ta yếu, không yếu mặt này thì yếu mặt khác, không yếu trong phòng ngủ thì yếu khi ra ngoài đường. Không rõ.
Chỉ có thể viết thêm là chồng mụ có một lần để thất thoát tiền của đơn vị. Hồi đó Quân đội bắt đầu bung ra làm kinh tế. Nếu không khắc phục được hậu quả thì phải ra tòa án binh, bế mạc cuộc đời. Mụ Thìn xuất số tiền trị giá hơn 100 cây vàng cho chồng đập vào chố tiền thất thoát và bôi trơn một số công đoạn.
Vì vậy chồng phải sợ vợ.

Nói vậy không có nghĩa là mụ công khai ra khỏi nhà đi với ông nọ ông kia. Giấy rách còn phải giữ lấy lề, vuốt mặt còn phải nể mũi. Cha ông chúng ta dạy rồi.

Con gái đầu của mụ ngoan, học giỏi. Nó lớn lên trong thời kỳ gian khó, bố mẹ còn đi xe đạp, xách cạp lồng cơm mang theo ăn trưa. Thằng em thì khác, sinh ra khi bố mẹ có tiền. Nhất là mẹ nó hay dùng tiền để được việc.

Khi thằng con dăm bảy tuổi, rất mê trò chơi điện tử. Sáng chủ nhật mụ nói là đưa con đi công viên chơi cho nó chạy nhảy trong không khí trong lành. Chở con đi được một đoạn, mụ ấn nó vào quán trò chơi điện tử cùng với số tiền đủ chơi 3 giờ đồng hồ và mua đồ ăn vặt thoải mái:
- Ở đây chơi, mẹ đi có việc.
Cuối buổi về đón con, mụ lại dặn về ai hỏi thì nói mẹ con mình đi công viên nhé.
Dần dần thằng con cáu:
- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Hôm nào chả đi công viên!

Ta sẽ quay lại với cậu quý tử ở đoạn cuối câu chuyện.

III.
Mụ Thìn có cặp mắt tình tứ, ướt át. Tình tứ, ướt át, mềm yếu với những ai mụ cần tình tứ, ướt át, mềm yếu. Với cấp dưới, với kẻ chống đối, cặp mắt ấy long lanh nộ khí, nhìn giống mắt cọp hơn là mắt rồng.

Nhớ lại thời bao cấp, kinh doanh buồn cười lắm. Làm chơi ăn thật. Lỗ thật lãi giả. Lỗ lãi gì không cần biết, chỉ cần đoàn kiểm tra quyết toán hàng năm ký biên bản công nhận bản quyết toán đó là xong, sau một hai ngày đoàn giả vờ soi mói, dọa dẫm, trưa đi nhà hàng ăn nhậu nhòe và cầm phong bì đầy đặn.

Mụ Thìn chả sợ đoàn kiểm tra quyết toán, nói chung chả sợ bố con thằng nào.
Có lần Văn phòng vào báo cáo có các đồng chí ở Viện Kiểm sát Quận đến làm việc. Mụ quắc mắt:
- Việc gì mà việc. Lâu lâu đến xin phong bì, vẽ chuyện. Anh ra bảo giám đốc đi vắng, không tiếp và cũng không ký duyệt phong bì được. Hôm nào giám đốc về sẽ mời các anh đến chơi với công ty.

Mụ coi thường nhất là giám đốc các xí nghiệp thương binh. Bi hài ở chỗ là hồi đó nhà nước quy định xí nghiệp thương binh chỉ phải đóng thuế doanh thu có 4%, trong khi các doanh nghiệp bình thường phải đóng 8%. Lăm ăn mà lãi 4% là nhiều lắm, rủng rỉnh lắm. Xí nghiệp thương binh, thực ra chỉ là danh nghĩa, có vài ông thương binh đích thực làm vì, còn lại toàn lành lặn. Nhờ lộc trời như thế nên các xí nghiệp thương binh luôn giảm giá hàng, phá bĩnh thị trường.
Mụ Thìn mỗi lần đi họp đều không thèm bắt tay mấy vị giám đốc xí nghiệp thương binh.

Khoảng năm 1997, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, nay là phó Chủ tịch Quốc hội, từ trong Nam ra làm thứ trưởng Bộ Tài chính. Tân thứ trưởng có nguyện vọng thăm và làm quen tìm hiểu một số doanh nghiệp lớn ở miền bắc.
Mụ Thìn tiếp bà Kim Ngân. Bà Ngân trẻ hơn, cao ráo hơn, đẹp hơn. Quan trọng nhất là quyền cao chức trọng hơn. Mụ Thìn tiếp lịch sự, song trong ánh măt không khỏi lộ sự đố kỵ và ganh ghét.
Sau khi bà Kim Ngân ra về, mụ xì ra với cấp dưới:
- Nghe đồn đẹp lắm, thấy cũng bình thường. Chắc có người chống lưng nên mới lên vù vù thế?!

IV.
Đất nước đổi mới, quản lý kinh tế và xã hội có nhiều thay đổi. Chế độ bao cấp dần dần bị xóa bỏ. Tất nhiên là cho đến nay vẫn chưa hết, nhưng thế cũng tốt hơn trước nhiều lắm rồi.
Trừ các tập đoàn kinh tế lớn, xuất thân là các Tổng Công ty 91 vẫn được bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước bị hạn chế bổ sung vốn. Xóa bỏ thuế doanh thu, chuyển sang thuế VAT. Xóa bỏ việc cấp trên kiểm tra quyết toán hàng năm mà các công ty kiểm toán độc lập tiến hành kiểm toán. Rồi cổ phần hóa v.v. Tình trạng cha chung không ai khóc giảm dần.

Trong bối cảnh đó, công ty của mụ Thìn liên tục thua lỗ. Năm sau lỗ nhiều hơn năm trước. Xưa cũng lỗ nhưng lại được bộ chủ quản và bộ Tài chính cho "khoanh nợ", khoanh được là xong, để lâu cứt trâu hóa bùn.

Cấp trên của mụ, cấp cao ở Bộ tài chính và các cơ quan hữu quan cũng thay đổi nhân sự nhiều. Khó chạy hoặc cơ chế mới có chạy cũng chả để làm gì. Vả lại vốn nhà nước giao cho mụ quản đã thủng lỗ chỗ, cái "vốn tự có" của mụ cũng nát bươm rồi.

Mụ Thìn không biết quản lý sản xuất, không biết kinh doanh, đương nhiên lộ rõ là giám đốc kém. Bạn bè thân thiết ít dần. An ninh kinh tế dòm ngó kỹ hơn.

Mụ cố trì hoãn việc cổ phần hóa công ty. Ở công ty cổ phần, việc bổ nhiệm và thôi bổ nhiệm giám đốc rất khác với ở công ty nhà nước. Giám đốc dễ mất chức hơn nhiều.
Trên hối thúc cổ phần hóa. Nhạy cảm, mụ Thìn đánh hơi được là nếu mình chống lại, sẽ bị cách chức.

Mụ làm đơn lên cấp trên, viết lâm li lắm. Nào là mấy chục năm cống hiến, nay sức khỏe giảm sút. Nào là mụ không tham quyền cố vị. Muốn cho lớp đàn em có cơ hội phát triển. V.v. và v.v. Mụ tự xin thôi chức vụ giám đốc, chỉ làm bí thư đảng ủy công ty thôi.

Ở ta sau năm 1994 có mốt "nhất nguyên", giám đốc luôn được bầu là bí thư cấp ủy. Thế cho dễ lãnh đạo.

Trên đồng ý ngay. Song ít ai hiểu hết mưu thâm của mụ. Nắm được tổ chức đảng là vẫn thao túng, chỉ đạo được bộ máy do mụ xây dựng cài cắm bấy nay. Không làm giám đốc nhưng quyền lực ngầm và mềm của mụ vẫn rất lớn.

Một điều tinh vi nữa là nếu an ninh kinh tế có tóm tóc, thông thường ít thích tóm các đồng chí bí thư đảng ủy.
Và bí thư thì nhiệm kỳ còn dài. 

V.
Ở đời người tính không bằng trời tính. Đôi khi người tính không bằng người khác tính.
Vào lúc mụ Thìn thu xếp để hạ cánh an toàn thì tai họa lại ập lên đầu mụ từ hướng bất ngờ nhất.

Thằng con trai của mụ càng lớn càng giỏi tiêu tiền và giỏi nói dối. Nói dối là do mụ dạy, tiêu tiền cũng là mụ dạy.
Như là lẽ dĩ nhiên, thằng bé dính vào ma túy. Nhà mụ xây trong khu đất do công ty chia, mấy chục gia đình cán bộ nhân viên công ty cùng ở đó. Làm gì mà họ không biết. Chả ai dám nói, chỉ thì thầm sau lưng mụ. Có vài người tốt bụng, gặp mụ mách là thấy thằng bé chơi với đám chích choác. Mụ nhảy cồ cồ:
- Chúng mày đừng thấy thằng con tao đẹp trai, thông minh học giỏi mà đơm đặt nói xấu nhé!

Đến đận thằng bé bị công an bắt mấy ngày (chỉ mấy ngày thôi, chắc mụ Thìn chạy được cho nó ra), không che dấu được nữa thì mụ thì thầm, bây giờ đến lượt mụ thì thầm với ai đó:
- Thằng con tôi là cộng tác viên với công an để tìm hiểu và bắt gọn đám ma túy. Công an phải bắt nó vài hôm chỉ để làm vì.

Vụ việc ngày càng trầm trọng. Thằng bé bỏ học, ăn cắp đồ trong nhà đi bán lấy tiền chích choác. Dần dần nhà mụ nguyên giám đốc chả còn gì, hoặc còn thì chỉ là của chìm. Của nổi chỉ là cái TV JVC 14" vỏ đỏ đời đầu, nhập nhà nhập nhòe, có cho cũng không ai lấy. Và hai cái quạt cây phải dùng giây xích khóa lại.

Song mụ Thìn vẫn tiếp tục che đậy việc con mụ nghiện ngập.

Rồi cái gì cũng phải có kết cục của nó.
Người chép câu chuyện này rất không thích kết cục câu chuyện, song vẫn phải chép cho xong việc.

Con trai mụ Thìn tham gia vào một vụ giết người cướp của. Nó không trực tiếp cầm dao giết nên được coi là tòng phạm.

Mụ Thìn đôn đáo chạy án. Nén bạc đâm toạc tờ giấy, nhưng không đốt cháy tờ giấy được. Cuối cùng tòa xử thằng thanh niên sinh ra và lớn lên trong chế độ mới ưu việt 20 năm tù.
Tiếp theo mụ chạy cho thằng con được ở cái trại nào tôn tốt một chút, đừng quá xa Hà Nội. 

Bây giờ mụ Thìn còn mỗi một việc là định kỳ đi thăm nuôi con, ủ mưu tiếp tục chạy cho thằng con được giảm án, theo một cách nào đó.

Nếu bạn có dịp bắt gặp người đàn bà tiều tụy, xách cái làn to, đứng trước cửa trại giam X chờ đến giờ được vào thăm nuôi tù, bạn không thể tin nối đó là mụ Thìn.

Bạn đừng mất công tìm đôi mắt một thời nổi sóng quyền lực và tình ái.
Bạn cũng đừng mất công thử đến gần ngửi xem nước hoa Chanel 5 nó có mùi mê hoặc như thế nào!
Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính
 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con
 

Tập Cận Bình, đọc và suy ngẫm


DẠY VÀ HỌC. Trong bài Suy ngẫm từ núi Xanh Bắc Kinhnói đến Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình với hai cuốn sách lớn "Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu" và "Những Suy tư từ sông Dương Tử" (hình) góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Tư tưởng và đường lối chính trị của vị lãnh tụ này hiện còn là điều bí ẩn. Thế giới chỉ có thể suy đoán và hiểu người qua việc làm và dư luận.  Năm 2013, trong đêm trước ngày diễn ra hội nghị thượng đỉnh thân mật giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Barack Obama, tờ New York TimesWall Street Journal cho biết quan chức Nhà Trắng khẳng định Tập Cận Bình đã nắm được quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực của Đảng và quân đội nhanh hơn họ dự báo rất nhiều. Ngày 26 tháng 6 năm 2014, tại phiên họp kín của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc  ông Tập Cận Bình đã nói: "Tôi không màng mình sẽ  sống hay chết, tiếng tăm mình sẽ còn hay mất, trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng này”. Trung Quốc đang có một vị lãnh tụ cứng rắn định hình và đang tung hoành, đã thay đổi cục diện chính trị tại Trung Quốc Cộng sản – "sự thay đổi này có thể tốt hay xấu hơn, nhưng điều chắc chắn là ông không thể quay ngược lại được nữa". Đó là nhận định của Gordon G. Chang  trong bài China’s “Gorbachev” Is Tearing the Communist Party Apart” (Gorbachev” Tàu đang xé nát Đảng Cộng sản, người dịch Phan Trinh 16-08-2014). Chợt dưng,  tôi nhớ đến "Bàng Đức mang quan tài ra trận" cùng  những lời bình trong bài "Đọc Hiểu đời của Chu Dung Cơ" và lời Sấm Trạng Trình " Đông Chinh thiên tử xuất. Bất chiến tự nhiên thành" . Hãy tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi (Hoàng Kim)
.



“Gorbachev” Tàu đang xé nát Đảng Cộng sản

China’s "Gorbachev" Is Tearing the Communist Party Apart
Tác giả: Gordon G. Chang 
Người dịch: Phan Trinh
16-08-2014
H1 

“Tập Cận Bình, giống Gorbachev, muốn làm điều vĩ đại để cải cách một hệ thống bệnh hoạn. Nhưng cũng như lãnh tụ cuối của Liên Xô cũ, Tập vừa kích hoạt những chuyển biến mà ông không thể kiểm soát được.”

Giới thiệu của người dịch:

Lập luận của Gordon rất đáng chú ý, nhất là khi ông so Tập Cận Bình với Gorbachev, người vừa cố sửa vừa cố giữ, sao cho không đổ vỡ, một hệ thống đã không thể sửa. Thực ra, bài học của Gorbachev nôm na chính là: Sai không sửa không được, nhưng cứ sửa là sụp.
Hóa ra Tập không vô địch, mà đang “thọ địch”, Tàu không siêu cường muốn làm gì thì làm, mà là một pho tượng khổng lồ đứng trên bục đất bở. Và hóa ra Đặng Tiểu Bình nói quá đúng:“Nếu Trung Quốc rơi vào bất ổn, thì bất ổn sẽ xuất phát từ chính nội bộ Đảng Cộng sản”.


Nếu xâu chuỗi những ngày tháng nêu trong bài – Bộ Chính trị Tàu họp kín ngày 26/6, trong đó Tập tuyên bố không màng sống hay chết trong công cuộc chống tham nhũng, và ngày 29/7, ngày ra thông báo điều tra Chu Vĩnh Khang – thì có thể đặt thêm một giả thuyết, không phải không có lý, đó là: Trung Quốc rút giàn khoan 981 khỏi vùng biển Việt Nam ngày 15/7, sớm trước một tháng, thực ra cũng chỉ vì đấu đá nội bộ đang đến hồi quyết liệt. (Đó là chưa kể Chu Vĩnh Khang từng là một ông trùm dầu khí với nhiều tay chân trong ngành). Và với Tập Cận Bình, có lẽ “thù trong” còn đáng sợ gấp trăm lần “giặc ngoài”.

Bài gốc đăng trên National Interest ngày 14/8/2014 có tên “China’s “Gorbachev” Is Tearing the Communist Party Apart”. Những tiêu đề nhỏ là của người dịch.
__________

Sống-chết, mất-còn

“Tôi không màng mình sẽ  sống hay chết, tiếng tăm mình sẽ còn hay mất, trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng này.” Tập Cận Bình đã mạnh miệng như thế, trong một phiên họp kín của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 26/6 vừa qua. Lãnh tụ nhiều tham vọng họ Tập cũng nhắc đến hai đội quân, một bên là đội quân “tham nhũng”, bên kia là đội quân “chống tham nhũng”, và hai lực lượng, theo ông, đang lâm vào thế “tiến thoái lưỡng nan.”

Những lời tuyên bố hùng hồn này, được một Ủy viên Trung ương Đảng tiết lộ, có vẻ chính xác và phù hợp với những thông tin trước đó rằng ông Tập đã đọc một diễn văn “gay gắt đến chấn động” về chiến dịch chống tham nhũng. Báo South China Morning Post tại Hongkong cho biết một nguồn tin liên quan đến bài diễn văn của Tập đã xác minh điều vừa kể. Rõ ràng, hiện đang diễn ra cuộc đấu đá nghiêm trọng giữa các phe phái cao cấp ở Bắc Kinh.

Mới gần đây thôi, phần lớn dư luận chỉ chú trọng đến việc ông Tập nhanh chóng củng cố vị thế chính trị sau khi trở thành Tổng Bí thư Đảng vào tháng 11/2012. Chẳng hạn vào năm 2013,trong đêm trước ngày diễn ra hội nghị thượng đỉnh thân mật giữa Chủ tịch Tập và Tổng thống Obama, tờ New York TimesWall Street Journal cho biết quan chức Nhà Trắng khẳng định Tập Cận Bình đã nắm được quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực của Đảng và quân đội nhanh hơn họ dự báo rất nhiều.

Cũng vậy, từ đó đến nay, việc truy tố rộng rãi các quan chức từ cao đến thấp – từ “hổ” đến “ruồi” trong từ vựng Trung cộng – được xem như bằng chứng ông Tập đã nắm trong tay hệ thống chính trị. Đầu tháng này, nhà báo Andrew Browne, viết trên tờ Wall Street Journal rằng: “Ít nhất là cho đến bây giờ, gần như không có dấu hiệu chống đối.” Tuy nhiên, thời điểm bài báo của Browne xuất hiện quả là không may. Vì ngay khi bài báo “không có dấu hiệu chống đối” được đưa lên mạng thì thông tin về bài diễn văn mạnh miệng trước Bộ Chính trị của Tập Cận Bình bắt đầu được lan truyền tại Hoa lục.

Thời khắc quyết định 

Những điều hùng hồn Tập Cận Bình nói ở trên làm người nghe nhớ đến tuyên bố đình đám năm 1998 của ông Chu Dung Cơ, về việc hãy chuẩn bị sẵn 100 cỗ quan tài cho bọn tham nhũng, nhưng cũng chuẩn bị luôn cho ông một cỗ vì ông sẵn sàng chết trong cuộc đấu tranh giành lại “niềm tin của nhân dân vào chính phủ”. Thế nhưng, tuy dùng ngôn ngữ đầy kịch tính, lời lẽ của ông Tập lại cho thấy tình trạng chống đối quyết liệt và sự bất mãn cao độ đang diễn ra trong giới lãnh đạo chóp bu.

Theo lời giáo sư Trương Minh (Zhang Ming) thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, vì đang có quá nhiều chống đối và bất mãn nên có thể xem đây chính là thời khắc quyết định mất-còn, được ăn cả ngã về không, của đồng chí Tập Cận Bình. Quả là một thời kỳ tế nhị vì việc chuyển giao lãnh đạo chính là nhược điểm lớn nhất của những hệ thống độc tài toàn trị, và Trung Quốc đang ở ngay trong một thời điểm rất dễ vỡ. Việc chuyển giao quyền lực từ Thế hệ Thứ tư Hồ Cẩm Đào cho Thế hệ Thứ năm Tập Cận Bình là lần chuyển giao quyền lực đầu tiên trong lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc mà không được lãnh tụ tối cao Đặng Tiểu Bình dàn xếp. Đặng Tiểu Bình, sau khi hất chân nhân vật chuyển tiếp Hoa Quốc Phong, đã tự đưa mình lên ngôi cao nhất, và sau đó ông chọn Giang Trạch Dân kế vị mình và sau nữa chọn Hồ Cẩm Đào kế vị Giang. Dĩ nhiên, Đặng không còn ở thế có thể dàn xếp người vào ghế cao nhất trong thời hậu-Hồ.

Các chuyên gia về Trung Quốc, dù không thân thiện với chế độ, đã cho rằng việc chuyển giao gần đây được thực hiện theo đúng các quy trình, thể lệ của Đảng, và đã diễn ra “êm thắm”. Mặc dù được chuyên gia nhận định như thế nhưng thực ra đã có những vấn đề nghiêm trọng,vì trong một nhà nước độc đảng, kể cả một nước quan liêu nặng như Trung Quốc, mọi nội quy luật lệ đều có thể thay đổi tùy theo ngẫu hứng bất chợt của lãnh tụ.Và trong cuộc chuyển giao Hồ-Tập vừa rồi, một số điều bất ngờ đã xảy ra.

9 còn 7, và ghế đập lưng ông

Chẳng hạn, đã có sự cắt giảm ngoài dự đoán con số thành viên của Ban Thường vụ Bộ Chính trị, tức đỉnh cao quyền lực chính trị, từ con số chín người xuống còn bảy. Đây là bằng chứng cho thấy việc chuyển giao quyền lực là kết quả sự dàn xếp giữa các bên, chứ không phải là kết quả bầu chọn theo luật định. Thêm vào đó, vụ Tập Cận Bình biến mất trong hai tuần vào tháng 9/2012 – theo một bài trên tờ Washington Post,Tập bặt tăm hai tuần vì bị chấn thương khi một đồng nghiệp ném ghế trong một phiên họp cấp cao, và ghế đập trúng lưng Tập – được cho là dấu hiệu của sự bất đồng nghiêm trọng trong hàng ngũ lãnh đạo. Lại cũng có hàng loạt tin đồn về các cuộc đảo chính trước khi chuyển giao quyền lực diễn ra, có cả tin về vụ nổ súng tại trung tâm Bắc Kinh trong số những tin khác. Đặng Tiểu Bình từng dự báo: “Nếu Trung Quốc rơi vào bất ổn, thì bất ổn sẽ xuất phát từ chính nội bộ Đảng Cộng sản.”

Nhưng, có lẽ lý do quan trọng nhất cho thấy đây là thời khắc định đoạt mất-còn của Tập Cận Bình lại chính là tham vọng quá lớn của ông. Từ trước đến nay, lãnh tụ nào của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc cũng yếu hơn tiền nhiệm của mình, trừ Tập Cận Bình. Ông Tập rõ ràng là đã ấp ủ những hy vọng lớn và ước mơ vĩ đại kiểu Mao, và chính điều này đã khiến ông, hơn hẳn ba vị tiền nhiệm, tiến hành thanh trừng những đối thủ chính trị cản đường mình. Dưới vỏ bọc chống tham nhũng, ông đã thúc đẩy điều mà nhà bình luận John Minnich thuộc Viện Chính sách (think tank) Stratfor gọi là “nỗ lực rộng nhất và sâu nhất, kể từ khi Mao Trạch Đông chết năm 1976 và Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền hai năm sau đó, nhằm thanh trừng, tái tổ chức và chấn chỉnh lại vị thế của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản.”

20 tháng 36 vị

Tính đến nay, cuộc chiến của Tập đã thực sự càn quét, hạ bệ ít nhất 36 quan chức ở vị trí thứ trưởng hoặc cao hơn trong 20 tháng đầu tiên nắm quyền.  Ủy ban Kỷ luật Trung ương Đảng cho biết năm ngoái họ đã kỷ luật 182.000 quan chức. Bộ sưu tập những con hổ sa bẫy có cả Bạc Hy Lai, một ủy viên Bộ Chính trị đầy sức hút, có cả Từ Tài Hậu, từng là một trong những vị tướng quyền lực nhất nước, và có cả Chu Vĩnh Khang, ông vua lực lượng an ninh nội chính, người phải phải rời ngôi vào năm 2012.

Thông báo về việc điều tra ông Chu Vĩnh Khang, đưa ra ngày 29/7/2014 vừa qua, đánh dấu điều một số người cho là “kết thúc giai đoạn quan trọng đầu tiên trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập,” nhưng điều này còn có ý nghĩa sâu xa hơn nhiều. Việc truy tố chưa từng có rõ ràng đánh dấu những ngày cuối cùng của hai thập niên ổn định chính trị, một thời kỳ đủ dài để cho phép Trung Quốc phục hồi sức lực sau 27 năm thảm hại dưới sự cai trị của Mao Trạch Đông.

Phạm điều tối kỵ

Việc điều tra Chu Vĩnh Khang thực ra vi phạm điều tối kỵ từng được mấy thế hệ lãnh đạo tuân thủ, đó là không được truy tố ủy viên hay cựu ủy viên của Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Nếu các lãnh tụ biết mình sẽ không bị truy bức đến cùng, như họ từng bị truy bức trong thời Cách mạng Văn hóa do Mao phát động, thì họ sẽ sẵn lòng rút lui êm thắm nếu thất bại khi tranh giành quyền lực. Nói cách khác, người kế vị khôn khéo của Mao, ông Đặng Tiểu Bình đã giảm thiểu tối đa nguy cơ các nhân vật chính trị quan trọng phải chiến đấu đến cùng và xé nát Đảng Cộng sản. Nhìn như thế thì việc cấm đụng đến các vị Ủy viên ban Thường vụ là một yếu tố quan trọng trong việc tái lập ổn định sau thời kỳ thanh trừng điên dại kéo dài hàng thập niên do Mao tiến hành.
Thế nhưng, Tập Cận Bình đã đảo ngược thế cờ và quy trình quen thuộc, và điều này thể hiện rất rõ qua vụ cho điều tra Chu Vĩnh Khang và án chung thân dành cho Bạc Hy Lai. Đây là dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang trở lại thời kỳ mà nhiều nhà quan sát nghĩ là đã qua từ lâu, và Tập Cận Bình đang phủ nhận cách làm chính trị của thời kỳ do Giang-Hồ thống lĩnh. Suốt thời kỳ vuốt mặt phải nể mũi đương nhiên đó, những kẻ chơi trò quyền lực đã cố duy trì thế cân bằng mong manh giữa những phe kình chống nhau trong Đảng. Còn đến thời Tập Cận Bình, cuộc chiến mất-còn sống-chết tranh giành quyền lực đang biến thành chủ trương“Tao còn, mày mất” hoặc “Mày chết, tao sống” (“You die, I live.”)

Như giáo sư Trương Minh thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc nhận xét, “trận đánh” giữa Tập và những quan chức khác “đã ở mức nóng bỏng cực độ.” Câu hỏi đặt ra là liệu trong những tháng sắp tới, các cuộc đấu đá kia sẽ giảm cường độ hay lại càng nóng bỏng.

Thỏa thuận?

Theo quan sát viên kỳ cựu về vấn đề Trung Quốc, ông Willy Lam, thì giai đoạn tệ hại nhất đã qua. Ông trích một nhận định của Đặng Vũ Văn – nguyên Phó Tổng Biên tập tờ Học tập Thời báo (Study Times) của Trường Đảng Trung ương – đăng trên Đại Công báo (Ta kung Po), tờ báo Hongkong thường phản ảnh đường lối Bắc Kinh, số ra ngày 26/7: “Nhiều người muốn biết liệu những con “hổ lớn” hoặc “hổ già” có tiếp tục bị sa bẫy hay không. Và khả năng điều này xảy ra trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ năm năm lần thứ nhất gần như bằng không.” Ông tin rằng Tập Cận Bình đã đạt được một thỏa thuận nào đó với Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, và những tai to mặt lớn khác trong Đảng để họ cho phép Tập làm bất cứ những gì Tập muốn với Chu Vĩnh Khang, với điều kiện Tập sẽ không đụng đến họ hoặc con cháu họ.

Nhưng một thỏa thuận như thế là điều nhiều người còn hoài nghi. Hiện đang có rất nhiều dự đoán về những gì sẽ xảy ra, và tất cả dường như đều cho thấy suy đoán của Đặng Vũ Văn không đúng, ít nhất là với các lý do sau:

Con hổ lớn nhất & tà khí

Thứ nhất, Tập được cho là đang dùng chiến dịch chống tham nhũng – trên thực tế thì đây là một cuộc thanh trừng chính trị – để gạt ra ngoài những kẻ chống đối kế hoạch tái cấu trúc kinh tế sâu rộng. Nếu điều này đúng thì thỏa thuận mà Đặng Vũ Văn nhắc tới là sai. Xét cho cùng, nếu tìm cách thỏa thuận với phe bảo thủ thì phe bảo thủ, vốn chịu nhiều thiệt hại nhất nếu có thay đổi, sẽ ở vào thế có thể cản trở hầu hết các cải cách. Trong khi đó, Tập Cận Bình lại là tuýp người khát khao để lại một di sản đáng kể – Tập muốn được xem như người có công cứu sống Đảng Cộng sản và thực hiện được “Giấc mơ Hoa” – và ông cũng chẳng dại gì bán rẻ tiền đồ của chính mình nếu thỏa hiệp. Để làm được điều mọi người nói ông sẽ làm – hoặc ít nhất là nắm được quyền lực tối cao – Tập Cận Bình cần nhổ nanh mọi đối thủ, nhổ nanh mọi con hổ vẫn đang là chúa tể rừng rú.

Thứ hai, mọi người hầu như đang mất kiên nhẫn với Tập, hoặc đang gặp bất lợi vì các chính sách của ông. Điều này có nghĩa trên thực tế Tập đang có động lực rất chính đáng để tung một chiêu ngoạn mục nhằm lấy lại sự ủng hộ của xã hội, chẳng hạn như bủa lưới bắt luôn con hổ lớn nhất của bầy hổ là Giang Trạch Dân. Nhà bình luận thạo tin ở Bắc Kinh, ông Lý Vĩ Đông (Li Weidong) tin rằng Tập sẽ nhắm vào mạng lưới tay chân của Giang và từ đó đảm bảo rằng 19 vị cựu Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị sẽ vì sợ hãi mà phải tuân thủ mọi ý muốn của Tập.
Thứ ba, ngay cả khi có một thỏa thuận giữa Tập và các bác hổ già đi nữa, thì những thỏa thuận đó cũng không thể kéo dài. Tập chắc chắn hiểu rằng ông đã đẩy cao kỳ vọng của người dân Trung Quốc và giờ đây ông phải làm những gì mình hứa. Quần chúng đòi hỏi bọn tham nhũng và quan tham bị hạ bệ, quần chúng muốn thấy gió lành thổi bay “tà khí”, mượn lời người bạn thâm niên của Tập nói với nhà báo John Garnaut. Vì vậy, Tập sẽ không thỏa hiệp trong cuộc chiến chống tham nhũng, ngay cả khi đó là điều Tập muốn làm. Trong xã hội Trung Quốc phát triển ngày càng phức tạp, có những thế lực mới không thể nào xem thường.

Vượt tầm kiểm soát

Tập Cận Bình, giống Gorbachev, là người muốn làm điều vĩ đại để cải cách một hệ thống bệnh hoạn. Nhưng cũng như lãnh tụ cuối của Liên Xô cũ, Tập vừa kích hoạt những chuyển biến mà ông không thể kiểm soát được. Ông quyết định tấn công tham nhũng, nhưng tệ nạn này đã ăn quá sâu trong hệ thống chính trị cộng sản Trung Quốc, nên rất khó có thể quản lý những nỗ lực chống tham nhũng quyết liệt. Không may cho Tập, ông đã tạo ra những kỳ vọng lớn lao trong xã hội, và trong cả giới tinh hoa. Cũng vì vậy ông không thể nào ngưng chiến dịch chống tham nhũng, và điều này nghĩa là dù có ngầm thỏa thuận với những bác hổ già đi nữa, các thỏa thuận đó không sớm thì muộn cũng tan tành, bằng cách này hay cách khác.

Một hệ thống chính trị dễ vỡ không thể kiềm chế được những kẻ quyết chí chiến đấu đến cùng để tồn tại.

Chính trị Trung Quốc thời hiện đại có lẽ sẽ không man rợ như trong những năm đầu lập nước Cộng hòa Nhân dân, nhưng vẫn không thể cho phép một lãnh tụ chấp nhận tình thế bất phân thắng bại. Một lãnh tụ chỉ có thể hoặc thắng hoặc thua, nhất là với Tập Cận Bình, kẻ đã kích hoạt điều được xem như một cuộc chiến tranh hủy diệt mang động cơ chính trị.

Logic khốc liệt

Với những thử thách quá lớn trong những ngày này, không ai muốn thấy mình yếu kém, nhất là đối với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tập Cận Bình đã khởi động cuộc chiến sống-còn, và ông phải tiến hành đến khi kết thúc. Khác với những hệ thống pháp trị trong đó các cơ cấu có tính định chế sẽ kiềm chế những xung động và xung đột, hệ thống toàn trị ở Trung Quốc lại dễ dàng tưởng thưởng những hành động tồi bại nhất trong những thời kỳ căng thẳng nhất. Kiểu cách chính trị được ăn cả ngã về không của Tập Cận Bình trói ông vào một logic rất khốc liệt mà ông không thể thoát khỏi.

Trong tình hình đó, như nhận định của giáo sư Quách Ôn Lương (Guo Wenliang) thuộc Đại học Trung Sơn tỉnh Quảng Châu: “nguy cơ những con hổ sẽ liên kết để phản công là một nguy cơ rất, rất lớn” vì các quan chức cao cấp sẽ không thể ngồi chờ Tập đến tóm đi từng người một. Và Tập cũng không thể ngồi chờ họ tấn công phản kích.

Tập Cận Bình, một lãnh tụ cứng rắn đang định hình và tung hoành, đã thay đổi cục diện chính trị tại Trung Quốc Cộng sản – sự thay đổi này có thể tốt hay xấu hơn, nhưng điều chắc chắn là ông không thể quay ngược lại được nữa.

Nguồn: Gordon G. Chang, “China’s “Gorbachev” Is Tearing the Communist Party Apart“, The National Interest 14/8/2014
Bản tiếng Việt © 2014 Phan Trinh & pro&contra

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính
 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con